|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày 08/8/2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Kim Tuấn.
+ Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Hoàng Văn Thảo.
2- Ông Nguyễn Thành Nhật.
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cảnh - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Nhà văn hóa xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-QĐ ngày 25/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Quốc B (Tên gọi khác: Không). Giới tính: Nam.
Sinh ngày 21 tháng 10 năm 1995; Nơi sinh:tại tỉnh Lạng Sơn.
Nơi cư trú: thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12.
Họ và tên cha: Trịnh Văn B1 – Sinh năm 1972.
Họ và tên mẹ: Nông Thị T – Sinh năm 1971.
Anh chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01.
Vợ: Lộc Thị T1, sinh năm 2003 (đã ly hôn).
Con: Không.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Trịnh Quốc B bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V. (Có mặt)
* Người bào chữa: Bà Vi Khánh P – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. (Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nông Thị T – Sinh năm 1971;
Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. (Có mặt)
* Người chứng kiến:
Bà Vũ Thị T2 – Sinh năm 1972;
Địa chỉ: Xóm N, xã P, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 20 phút ngày 08/5/2024, tổ công tác Công an xã P thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn tại khu vực đường dân sinh xóm N, xã P, huyện V, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện một người nam giới điều khiển xe mô tô nhãn hiệuYAMAHA, loại Sirius, màu đen – trắng, biển kiểm soát 12S1-024.82 có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu kiểm tra.Quá trình làm việc người nam giới trình bày tên là Trịnh Quốc B, sinh năm: 1995, nơi cư trú: thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và khai nhận đang cất giữ trái phép ma túy, loại Heroine trên người. Bộ đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác 01 gói giấy màu trắng mà Bộ đang cầm ở trong lòng bàn tay phải. Tổ công tác kiểm tra thấy bên trong gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) này có 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột. Bộ khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của Bộ C để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong 01 gói giấy đựng chất màu trắng dạng cục và bột trên vào phong bí ký hiệu B1 và tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển kiểm soát 12S1-024.82, đồng thời tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trịnh Quốc B về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau đó, bàn giao đối tượng cùng toàn bộ hồ sơ, vật chứng đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.
Tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng đối với chất màu trắng dạng cục và bột nghi là chất ma túy thu giữ của Trịnh Quốc B được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1 thì xác định được khối lượng là 0,194 gam. Đã lấy toàn bộ 0,194 gam niêm phong trong phong bì ký hiệu M để làm mẫu vật gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 607/KL – KTHS ngày 16/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục và bột đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là 0,194 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Quốc B khai nhận: Bản thân Bộ là người nghiện chất ma túy, loại Heroine, sáng ngày 08/5/2024, khi đi làm thuê tại xã P, huyện V, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Bộ đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển kiểm soát 12S1-024.82 (là xe Bộ mượn của mẹ đẻ là Nông Thị T, sinh năm: 1971, nơi cư trú: thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn) đi một mình đến khu vực xóm N, xã P, huyện V, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng. Khi Bộ đến khu vực trên Bộ đã gặp một người đàn ông không quen biết. Qua nói chuyện, Bộ biết người đàn ông này có bán ma túy, loại Heroine nên đã hỏi mua với giá 200.000 đồng thì được người này đồng ý. Sau khi Bộ trả tiền xong, người đó chỉ về phía bờ tường xây cách vị trí B đứng khoảng 03 mét và nói ma túy ở trên tường nên B đã đến và thấy có 01 gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh),Bộ mở ra kiểm tra thì thấy bên trong đựng 01 gói giấy bạc chứa chất màu trắng dạng cục và bột. Biết là ma túy, Bộ gói lại như ban đầu, cầm gói ma túy ở trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe máy tìm nơi
2
vắng vẻ để sử dụng thì bị Công an xã P phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 29/CT- VKSVN ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Trịnh Quốc B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
Kết thúc thẩm vấn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố Trịnh Quốc B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Quốc B từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024.
* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
** Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,181 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M; 01 (một) phong bì ký hiệu V bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh), 01 mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì ký hiệu B1.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong phần tranh luận, người bào chữa nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự bởi lẽ quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thực sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cản, phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng sớm làm sáng tỏ vụ án. Tuy nhiên số lượng ma túy bị cáo phạm tội không lớn, đã thu giữ được, mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo chỉ để sử dụng cho bản thân, đã được ngăn chặn kịp thời không gây hâu quả. Bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, thuộc hộ cận nghèo, có ông nội và ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương. Từ nhận định này, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo; Về vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật; Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
3
Bị cáo không bào chữa tranh luận bổ sung. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp không đồng ý với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo có ông nội và ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương vì bản thân bị cáo và gia đình không cùng chung sống với ông nội, ông ngoại, bị cáo không được ông nội hoặc ông ngoại trực tiếp nuôi dưỡng.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật, bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định tội phạm:
Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 08/5/2024, tại đoạn đường thuộc xóm N, xã P, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Trịnh Quốc B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,194 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã P, huyện V phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,194 gam Heroine của Trịnh Quốc B đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...
c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Trịnh Quốc B theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án thấy: Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm vào sự quản lý độc
4
quyền về chất ma túy của Nhà nước.Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Xét nhân thân bị cáo thấy bị cáo sinh ra được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12 phổ thông, ngày 08/5/2024 có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị bắt giữ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất của vụ án cũng như các yếu tố về nhân thân cùng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy hành vi và tội phạm bị cáo phạm phải là nghiêm trọng, gây hệ lụy xấu cho bản thân và xã hội, bị cáo có trình độ văn hóa hiểu biết pháp luật nhất định nhưng vẫn nghiện ma túy. Do vậy, cần lên mức án cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo cai nghiện và cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
* Về hình phạt bổ sung: Vì bản thân bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản riêng và gia đình thuộc hộ cận nghèo nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Xét một số vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,181 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M; 01 (một) phong bì ký hiệu V bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh), 01 mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì ký hiệu B1.
[5] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở địa phương có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí. Xét bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, cần chấp nhận đơn xin miễn áp phí của bị cáo.
[6] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu đen trắng, biển kiểm soát 12S1-024.82, quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của bà Nông Thị T, sinh năm: 1971, nơi cư trú: thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (là mẹ đẻ của Bộ). Bà T cho B mượn xe trước đó, tuy nhiên bà T không biết việc B sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy. Nên ngày 01/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc xe mô tô trên cho bà Nông Thị T quản lý, sử dụng.
[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tại phiên toà hôm nay về tội danh và các vấn đề khác là phù hợp.
Xét đề nghị của người bào chữa về tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ, còn các nội dung đề nghị khác phù hợp và được xem xét.
5
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Quốc B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.Về hình phạt.
1.1. Về hình phạt chính:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Quốc B 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Bộ trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
1.2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,181 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M; 01 (một) phong bì ký hiệu V bên trong có 01 mảnh giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh), 01 mảnh giấy bạc và 01 vỏ phong bì ký hiệu B1.
* Về tình trạng vật chứng: Vật chứng nêu trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Kim Tuấn |
6
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 18 tháng tù cho hành vi tàng trữ 0,194g ma túy
