|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Quang Tụng
2. Ông Phạm Hoàng Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Xuân Đ, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Chị Phạm Thúy H, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Anh Đ, chị H đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Xuân Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thúy H yêu thương nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 10/10/2005 tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng ở tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ và chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống chung không hòa hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung nên anh xin ly hôn với chị H.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Lê Đức A, sinh ngày 11/10/2006, cháu Lê Đức D, sinh ngày 22/10/2009 và cháu Lê Hải Y, sinh ngày 19/8/2013. Khi ly hôn anh Đ đề nghị được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lê Đức A, sinh ngày 11/10/2006, cháu Lê Đức D, sinh ngày 22/10/2009. Chị H được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lê Hải Y, sinh ngày 19/8/2013. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai và biên bản hòa giải ngày 18/9/2024 bị đơn chị Phạm Thúy H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị xác nhận về thời gian kết hôn, chung sống, mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian sống ly thân như anh Đ trình bày là đúng. Nhưng chị không đồng ý ly hôn vì chị theo Công giáo nên không được bỏ chồng. Chị đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của anh Đ.
Về con chung: Chị xác nhận vợ chồng có 03 con chung là cháu Lê Đức A, sinh ngày 11/10/2006, cháu Lê Đức D, sinh ngày 22/10/2009 và cháu Lê Hải Y, sinh ngày 19/8/2013. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lê Hải Y, sinh ngày 19/8/2013. Chị đồng ý để anh Đ trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lê Đức A, sinh ngày 11/10/2006, cháu Lê Đức D, sinh ngày 22/10/2009. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về quan hệ hôn nhân xử cho anh Lê Xuân Đ được ly hôn với chị Phạm Thúy H.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Đức A, sinh ngày 11/10/2006, cháu Lê Đức D, sinh ngày 22/10/2009 cho anh Đ trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Giao cháu Lê Hải Y, sinh ngày 19/8/2013 cho chị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Hai bên xác nhận không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Anh Đ phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, anh Đ có quan điểm xin xét xử vắng mặt, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ, chị H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10/10/2005 tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Anh Đ cho rằng hôn nhân không có hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị H. Phía chị H cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2014 và thực tế không còn chung sống cùng nhau, tuy nhiên chị H không đồng ý ly hôn vì chị là người theo công giáo không được bỏ chồng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của anh Đ.
Xác minh tại địa phương được đại diện khu dân cư và chính quyền địa phương cho biết chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở khu F, xã T, huyện P từ năm 2014 do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nhưng cụ thể nguyên nhân mâu thuẫn là gì thì đại diện khu dân cư và chính quyền địa phương không nắm rõ. Nay anh Đ xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử thấy rằng: tại các bản khai, phiên hòa giải và quá trình giải quyết vụ án anh Đ và chị H đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay và thực tế không còn chung sống cùng nhau và không quan tâm đến nhau do vậy có thể xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho anh Đ được ly hôn chị H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh Lê Xuân Đ và chị Phạm Thúy H đều xác nhận có 03 con chung là cháu Lê Đức A, sinh ngày 11/10/2006, cháu Lê Đức D, sinh ngày 22/10/2009 và cháu Lê Hải Y, sinh ngày 19/8/2013. Nếu ly hôn đặt ra, anh Đ và chị H đều đồng ý để anh Đ được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lê Đức A, sinh ngày 11/10/2006, cháu Lê Đức D, sinh ngày 22/10/2009; để chị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Lê Hải Y, sinh ngày 19/8/2013. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.
Hội đồng xét xử nhận thấy anh Đ có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu Lê Đức A, cháu Lê Đức D, hai cháu cũng có quan điểm muốn ở cùng với anh Đ; chị H có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu Lê Hải Y, cháu Y cũng có quan điểm muốn ở cùng với chị H. Vì vậy giao cháu Lê Đức A, sinh ngày 11/10/2006, cháu Lê Đức D, sinh ngày 22/10/2009 cho anh Đ được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và giao cháu Lê Hải Y, sinh ngày 19/8/2013 cho chị H được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Anh Đ và chị H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[3] Về án phí: vì yêu cầu ly hôn của anh Đ được chấp nhận nên anh Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Xuân Đ
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Xuân Đ được ly hôn với chị Phạm Thúy H.
- Về con chung: Giao cho anh Lê Xuân Đ được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Đức A, sinh ngày 11/10/2006, cháu Lê Đức D, sinh ngày 22/10/2009; giao cho chị Phạm Thúy H được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là Lê Hải Y, sinh ngày 19/8/2013. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh Lê Xuân Đ và chị Phạm Thúy H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Anh Lê Xuân Đ phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Đ đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/2023 số 0001295 ngày 12 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thihành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Thanh Huyền |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh D xin ly hôn chị H
