Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17-4-2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung".

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Thị Khánh Hòa
  2. Ông Bùi Văn Trung.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc: "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị P, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số A, tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(Chị P và anh T xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Đỗ Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 06-12-2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn căng thẳng, đôi bên không khắc phục được đã sống ly thân từ cuối năm 2012 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện H giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về nuôi con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Bảo N, sinh ngày 07-11-2015 và Nguyễn Phương U, sinh ngày 01-6-2013, hiện cả 02 con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu anh T góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 26-3-2024, bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Đỗ Thị P kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 06-12-2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do anh và chị P không thống nhất được nơi ăn chốn ở, chị P không muốn về xã H để sinh sống. Mâu thuẫn căng thẳng, đôi bên không khắc phục được đã sống ly thân từ cuối năm 2012 đến nay, không quan tâm đến nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh nhất trí ly hôn chị P.

Về nuôi con chung: Anh và chị P có 02 con chung là Nguyễn Bảo N, sinh ngày 07-11-2015 và Nguyễn Phương U, sinh ngày 01-6-2013, hiện cả 02 con chung do chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu ly hôn anh nhường chị P trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P.

Về chia tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh bận công việc nên không đến Tòa án làm việc được, anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt tại các buổi làm việc, vắng mặt tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa anh và chị P.

Tại đơn đề nghị ngày 15-3-2024, cháu Nguyễn Bảo N trình bày: Cháu là con chung của bố T và mẹ P. Cháu được biết hiện nay Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang giải quyết vụ án ly hôn giữa bố mẹ cháu. Nếu Tòa án giải quyết cho bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng xin được ở cùng mẹ cháu để ổn định cuộc sống và học tập của cháu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và tố tụng: Chị Đỗ Thị P khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn T, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Chị P và anh T xin vắng mặt nên TAND huyện Hưng Hà tiến hành xét xử vắng mặt chị P và anh T theo quy tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị P kết hôn với anh Nguyễn Văn T tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào 06-12-2011, là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hòa thuận, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, chị P và anh T không khắc phục được đã sống ly thân từ cuối năm 2012 đến nay. Hội đồng xét xử thấy: Chị P và anh T mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh T, anh T nhất trí ly hôn vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị P, xử cho chị P được ly hôn anh Thế 1 có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về nuôi con chung: Chị P có 02 con chung là Nguyễn Phương U, sinh ngày 01-6-2013 và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 07-11-2015, chị P và anh T thống nhất để chị P trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 hai con chung, hơn nữa con chung có nguyện vọng được ở cùng chị P. Vì vậy cần giao cả 02 con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận sự tự nguyện nuôi con hoàn toàn của chị P không yêu cầu anh T góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị P là phù hợp với quy định của Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về chia tài sản: Chị P và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không giải quyết.

[5] Về án phí: Chị P phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị P và anh Nguyễn Văn T.
  2. Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Đỗ Thị P trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Bảo N, sinh ngày 07-11-2015 và Nguyễn Phương U, sinh ngày 01-6-2013. Anh Nguyễn Văn T không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P. Anh Nguyễn Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Đỗ Thị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003665 ngày 13-3-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị P đã nộp đủ).
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị P và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - UBND xã Hồng Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị P và anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger