|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-6-2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Vũ Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Vũ Anh Kiệt
- Bà Đinh Thị Mỹ Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Xuân – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 112/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Bích L, sinh năm 1985. Có mặt.
- * Bị đơn: Ông Nguyễn Hiếu T, sinh năm 1980. Có đơn xin xử vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Khu phố 2, phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại Tòa của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Bích L có nội dung như sau:
Bà và ông Nguyễn Hiếu T tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Sau khi kết hôn, vợ chồng bà L sống hạnh phúc một thời gian rồi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bà không tìm được tiếng nói chung, bà và ông T không cùng quan điểm nên thường xảy ra mâu thuẫn cải vã, ông T không chú tâm làm ăn, chăm sóc gia đình vợ con. Bà và ông T đã hoà giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn lại, hiện nay vợ chồng bà mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chia sẽ cuộc sống với nhau, tình cảm vợ chồng không còn, nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hiếu T.
Về con chung: Vợ chồng bà có 03 con chung: Nguyễn Hiếu Đ, sinh ngày 22.5.2006; Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 31.3.2009; Nguyễn Thị Mỹ Q, sinh ngày 17/3/2017. Tại đơn khởi kiện bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi 03 con là 6.000.000 đồng/tháng. Hiện nay, Nguyễn Hiểu Đ, sinh ngày 22.5.2006 đã trưởng thành, bà L đi làm ăn xa, các con hiện nay do ông T đang trực tiếp nuôi dưỡng và ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi 03 con nên bà L đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Hiếu T trình bày:
Ông thừa nhận mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà L về thời gian kết hôn, về con chung như bà L khai. Ông và bà L chung sống hạnh phúc không được bao lâu thì nảy sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hoà giải được. Từ đầu tháng 4/2024, ông và bà L không còn sống chung với nhau, bà L tự ý bỏ đi và không quan tâm, chăm sóc con cái, hiện nay ông T là người trực tiếp nuôi các con. Ông T đồng ý ly hôn với bà L. Về con chung, ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con vì thu nhập mỗi tháng của ông T là 15.000.000 đồng đảm bảo việc nuôi con.
Ông T có đơn xin xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L và quan hệ pháp luật tranh chấp Tòa án xác định là đúng, Tòa án đưa vụ án ra xét xử phù hợp với quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn đưa vụ án ra xét xử; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và quá trình xét xử vụ án Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhận thấy: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L; Về con chung: Giao cho ông T được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung: Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 31.3.2009; Nguyễn Thị Mỹ Q, sinh ngày 17/3/2017. Riêng con chung: Nguyễn Hiếu Đ, sinh ngày 22.5.2006 hiện đã trưởng thành. Về án phí: Bà L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết tranh chấp:
Xét yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Bich L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; bị đơn ông Nguyễn Hiếu T có địa chỉ tại khu phố 2, phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên toà, bị đơn ông Nguyễn Hiếu T có đơn xin xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Thị Bích L và ông Nguyễn Hiếu T tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn số 02 cấp ngày 12/12/2005 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, vì vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp kể từ khi đăng ký kết hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, bà L và ông T đều thừa nhận vợ chồng sống chung có xảy ra mâu thuẫn, đã hoà giải nhưng không thể hàn gắn lại, bà L yêu cầu ly hôn ông T đồng ý. Toà án đã tiến hành hoà giải nhưng ông T vắng mặt. Xét thấy: Mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, hiện nay ông bà đã không còn sống chung. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Bích L là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2. Về con chung:
Tại đơn khởi kiện bà L yêu cầu được nuôi 03 con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi 03 con mỗi tháng là 6.000.000 đồng. Quá trình giải quyết lời khai của ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng và hiện nay ông T là người trực tiếp nuôi các con, ông vẫn đảm bảo việc nuôi con tốt và bà L cũng đồng ý giao 03 con cho ông T nuôi dưỡng. Xét thấy: Hiện nay cháu: Nguyễn Hiếu Đ, sinh ngày 22.5.2006 đã trưởng thành nên tuỳ vào nguyện vọng cháu muốn ở với ai thì ở, bà L không yêu cầu, còn 02 cháu: Nguyễn Thị Mỹ N, sinh ngày 31.3.2009; Nguyễn Thị Mỹ Q, sinh ngày 17/3/2017 giao cho ông Nguyễn Hiếu T được trực tiếp nuôi dưỡng.
3.3. Về cấp dưỡng nuôi con:
Ông T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3.4. Về tài sản chung, nợ chung:
Bà L và ông T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí:
Bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, 53, 54, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Bích L được ly hôn ông Nguyễn Hiếu T.
- Về nuôi con chung: Giao cho ông Nguyễn Hiếu T được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung: Nguyễn Thị Mỹ N (Giới tính: Nữ), sinh ngày 31.3.2009; Nguyễn Thị Mỹ Q (Giới tính: Nữ), sinh ngày 17/3/2017. Riêng con chung: Nguyễn Hiếu Đ, sinh ngày 22.5.2006 hiện đã trưởng thành.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà L và ông T không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Huỳnh Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011453 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L, bà L đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, báo cho bà L biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/6/2024). Riêng bị đơn ông Nguyễn Hiếu T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Vũ Toàn |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUÂN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUÂN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
