Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-05 – 2024.

V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Sửu

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Ngọc Minh

- Bà Lê Thị Hường

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 310/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023, về việc tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXX-ST, ngày 05-04-2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22 ngày 19-04-2024 giữa.

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kiều M - sinh năm: 1998 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn E, T, H, Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Huỳnh Minh T - sinh năm 1990 (vắng mặt),

Địa chỉ: T, P, N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà T1 trình bày:

Bà với ông T tự tìm hiểu, hai bên gia đình đồng ý có tổ chức lễ cưới về chung sống và có đến UBND xã T, huyện H đăng ký kết hôn năm 2016,

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến khoảng năm 2023 xảy ra mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà M, ông T chung sống thường xảy ra cải vã và sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay không có trách nhiệm với nhau, không quan tâm đến nhau.

Nay bà M xét thấy tình cảm giữa bà với ông T không còn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông T.

Về con chung: Có 02 con chung song sinh tên Huỳnh Minh K, tên Huỳnh Minh K1, sinh cùng ngày 17-03-2017 hiện bà M đang nuôi, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về thu nhập: Bà M làm công nhân mỗi tháng thu nhập 15.000.000 đồng.

Còn về phía bị đơn: Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương tống đạt các thông báo theo thủ tục tố tụng, nhưng ông Huỳnh Văn T2 không có mặt tại Tòa án vào các lần triệu tập.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trong quá trình giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử phiên tòa dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thực hiện đúng thủ tục tố tụng từ khi triệu tập, thụ lý, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải và các thủ tục khác cũng được thực hiện đầy đủ đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự; kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Đối với nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M; bà M được ly hôn ông T2.

Về con chung: Giao 02 con chung cho bà M chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét, do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp trong vụ án này là: "Ly hôn, nuôi con chung"

[2] Nội dung pháp luật áp dụng: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3] Xét về hôn nhân: Bà Phạm Thị Kiều M, ông Huỳnh Văn T2 tự tìm hiểu về chung sống năm 2016 có đến cơ quan cấp có thẩm quyền đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến năm 2023 xảy ra xích mích, cải vã không giải quyết được dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng sống ly thân, không quan tâm đến nhau, không có trách nhiệm với nhau.

Nay bà Phạm Thị Kiều M xét thấy tình cảm giữa bà với ông Huỳnh Văn T2 không còn, bà yêu cầu được ly hôn ông T2 là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Qua xác minh chính quyền địa phương cho biết bà M, ông T2 đã sống ly thân.

Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà M, ông T2 cuộc sống chung không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà M xin ly hôn ông T2 là có căn cứ phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M.

[4] Xét về con chung: Có 02 con chung song sinh tên Huỳnh Minh K, tên Huỳnh Minh K1, sinh cùng ngày 17-03-2017 hiện bà M đang nuôi, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và xét nguyện vọng con chung mong muốn được sống với bà M nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M.

[5] Xét về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét, do bà M không yêu cầu.

[6] Xét về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, do bà M khai không có.

[7] Xét về án phí: Áp dụng Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 bà M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 38, 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 "hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí";

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Kiều M, bà Phạm Thị Kiều M được ly hôn ông Huỳnh Minh T.

Về con chung: Giao cho bà Phạm Thị Kiều M được tiếp tục nuôi Có 02 con chung song sinh tên Huỳnh Minh K, tên Huỳnh Minh K1, sinh cùng ngày 17-03-2017, con chung hiện bà M đang nuôi.

Ông Huỳnh Minh T có quyền đi lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung Phạm Thị Kiều M là người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Huỳnh Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà M không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, do nguyên đơn khai không có.

Về án phí: Buộc bà Phạm Thị Kiều M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng bà M đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0001015 ngày 07-12-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, bà M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt. Báo cho người có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07-5-2024). Riêng bị đơn được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án bản án theo thủ tục tố tụng.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Ngọc Minh

Lê Thị Hường

Đoàn Sửu

- Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - THADS huyện Ninh Phước;
  • - UBND xã T, H (để biết);
  • - Các đương sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Sửu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger