Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 23 -7 -2024

V/v tranh chấp tài sản chung

sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Bùi Ngọc Thạch.
Các Thẩm phán:Ông Huỳnh Văn Luật;
Ông Nguyễn Văn Tài.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 và 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 81/2023/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 54/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 56/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  2. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước, (văn bản ủy quyền ngày 01/4/2022), có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Trương Công H, sinh năm 1979; đăng ký thường trú: số B khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.

2

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Đăng T1, sinh năm 1958; địa chỉ: Đường N, khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Binh Dương. (Văn bản ủy quyền ngày 28/4/2023), có mặt.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Hoàng N, sinh năm 2003; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  1. Người làm chứng:
    1. Bà Trần Thị N1, sinh năm 1964; địa chỉ: số I, khu phố N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
    2. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1984; địa chỉ: số A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
    3. Ông Trương Hữu Hoàng T3, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
    4. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
  1. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị T.
  2. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20/01/2022, quá trình tham gia tố tụng đại diện nguyên đơn trình bày:

Bà Trần Thị T và ông Trương Công H là vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 2008 và đã ly hôn theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn số 256/2021/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Trong thời kỳ hôn nhân, bà T và ông H tạo lập được tài sản chung là: Quyền sử dụng thửa đất số 400, tờ bản đồ số 23, diện tích đo đạc thực tế 2057,4m² tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H03088/QĐ-UB ngày 15/10/2009 do Ủy ban nhân dân huyện D do ông Trương Công H đứng tên. Tài sản trên đất gồm: nhà tiền chế, loại cấp 4 diện tích 118,9m²; nhà vệ sinh 11,5m²; nhà vệ sinh 11,3m²; 85 cây cao su trồng năm 2009.

Nguồn gốc đất do ông H, bà T nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị N1 vào năm 2009. Nguồn tiền để nhận chuyển nhượng là tiền chung của vợ chồng, tiền bán vàng cưới, 150.000.000 đồng tiền của ông Trần Văn T2 là anh ruột của bà T cho bà T khi kết hôn.

3

Khi ly hôn bà T, ông H chưa chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, sau khi ly hôn bà T yêu cầu chia tài sản chung nhưng ông H không đồng ý nên bà T khởi kiện, khởi kiện bổ sung yêu cầu: được chia ½ diện tích đất và ½ giá trị tài sản trên đất, bà T yêu cầu được nhận toàn bộ tài sản bằng hiện vật, đồng ý hoàn lại bằng tiền phần ông H được hưởng.

Quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, bị đơn và đại diện bị đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: ông H thống nhất với bà T về thời gian kết hôn và ly hôn theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn số 256/2021/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu khởi kiện của bà T về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì ông hải không đồng ý, vì: năm 2009, mẹ đẻ của ông H là bà Nguyễn Thị L1 được nhận tiền đền bù đất tại Thành phố Hồ Chí Minh và có cho riêng ông H số tiền 500.000.000 đồng, ông H nhận tiền và gửi vào Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á ngày 21/5/2009. Khoảng 02 tháng sau khi nhận được tiền thì ông H và ông Trương Hữu Hoàng T3 (em ruột ông H) và anh họ ông H là ông Nguyễn Văn L cùng nhau mua đất của bà Nguyễn Thị N2 với giá 759.000.000 đồng (11.000.000 đồng/m). Phần của ông H là 27m ngang tương đương số tiền 297.000.000 đồng. Số tiền bà L1 cho ông H là tiền cho riêng cá nhân ông H, bà T không biết về số tiền này cũng như không biết về việc ông H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà N2. Tài sản là quyền sử dụng đất mà bà T tranh chấp là tài sản riêng của ông H, không phải tài sản chung của vợ chồng.

Đối với các tài sản trên đất gồm: nhà tiền chế, loại cấp 4 diện tích: 118,9m²; nhà vệ sinh 11,5m²; nhà vệ sinh 11,3m²; 85 cây cao su trồng năm 2009 được tạo lập sau khi ông H nhận chuyển nhượng đất của bà N2, ông H thừa nhận là tài sản chung của vợ chống trong thời kỳ hôn nhân. Ông H đồng ý chia đôi các tài sản này, ông H hoản trả cho bà T ½ giá trị tài sản chung theo kết quả định giá của Hội đồng định giá.

Quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Hoàng N trình bày:

Ông N là con riêng của ông H, anh N sống cùng ông H trên phần đất các bên tranh chấp. Ông N không có yêu cầu gì trong vụ án và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Lời khai của người làm chứng ông Trương Hữu Hoàng T3:

Ông Trương Hữu Hoàng T3 và ông Trương Công H là anh em ruột và là con đẻ bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1962. Năm 2009, bà L1 được bồi thường đất tại phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng số tiền được bồi thường hơn 7.000.000.000 đồng (bảy tỷ đồng). Sau khi được bồi thường, bà L1 có cho riêng ông T3 và ông H mỗi người 500.000.000 đồng để mua đất. Sau khi được bà L1 cho tiền, ông T3, ông H cùng ông Nguyễn Văn L (anh em cô

4

cậu với ông T3 và ông H) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Trần Thị N1 (là người được cấp quyền sử dụng đất diện tích 5.553m³ thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương). Sau khi thỏa thuận giá chuyển nhượng là 759.000.000 đồng, ông T3 là người đại diện ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà N1 ngày 15/8/2009. Đến ngày 16/9/2009, bà N1 hoàn tất thủ tục ký tên để chuyển nhượng cho ông T3, ông H và ông L toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích 5.553m³ thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Theo đó, ông T3, ông H và ông L có phần riêng. Phần ông T3 nhận chuyển nhượng có chiều ngang 27m, chiều dài hết đất. Số tiền góp để đưa cho bà N1 là 297.000.000 đồng, phần còn lại là của ông L và ông H. Đến ngày 16/9/2009 ông T3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do ông T3 và ông H cùng được mẹ cho tiền để mua đất nên ông T3 khẳng định nguồn tiền để ông H mua đất là do bà L1 cho riêng ông H.

Lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Văn L:

Ông Nguyễn Văn L và ông Trương Hữu Hoàng T3, ông Trương Công H là anh em họ. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1962 là mẹ đẻ của ông T3 và ông H. Năm 2009, bà L1 được bồi thường đất tại phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng số tiền được bồi thường hơn 7.000.000.000 đồng (bảy tỷ đồng). Sau khi được bồi thường, bà L1 có cho ông T3 và ông H mỗi người số tiền 500.000.000 đồng để mua đất. Sau khi được mẹ cho tiền, ông T3, ông H cùng ông L nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị N1 diện tích đất 5.553m³ thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Sau khi thỏa thuận giá chuyển nhượng là 759.000.000 đồng, ông T3 là người đại diện ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà N1 ngày 15/8/2009. Đến ngày 16/9/2009, bà N1 hoàn tất thủ tục ký tên để chuyển nhượng cho ông T3, ông H và ông L toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích 5.553m³ thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Theo đó, ông T3, ông H, ông L đều có phần riêng. Phần ông L nhận chuyển nhượng có chiều ngang 15m, chiều dài hết đất. Số tiền góp để đưa cho bà N1 là 165.000.000 đồng, phần còn lại là của ông T3 và ông H. Đến ngày 16/9/2009 thì ông L, ông T3 và ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Lời khai của người làm chứng ông Trần Văn T2:

Ông Trần Văn T2 là anh ruột bà Trần Thị T. Ông T2 đến Tòa án để làm chứng về nội dung nguồn tiền để vợ chồng bà T mua đất tại xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Ông T2 không nhớ thời gian cụ thể nhưng khoảng giữa năm 2008, khi bà T và ông H kết hôn thì ông T2 có cho bà T số tiền 150.000.000 đồng để làm vốn. Khoản tiền này ông T2 cho bà T tại nhà ông H sau đám cưới, ông H biết về số tiền này. Nguồn tiền này gồm 02 phần, một phần của bà ngoại ông T2 là 105.000.000 đồng, còn lại 45.000.000 đồng là của ông T2. Nguồn gốc số tiền 105.000.000 đồng của bà ngoại cho là do bà ngoại chia tài sản cho các con trong gia đình, nhưng ba mẹ ông T2 đã chết nên ông T2 được nhận.

5

Khi bà T kết hôn không có tài sản gì nên ông T2 đã cho số tiền 150.000.000 đồng làm vốn về nhà chồng để không bị nhà chồng coi thường. Sau khi cho tiền, ông T2 nghe nói vợ chồng bà T dùng tiền được cho để sửa nhà, mua đất, nhưng do là việc riêng của vợ chồng bà T ông H, ông T2 không tiện hỏi cụ thể như thế nào.

Lời khai của người làm chứng bà Trần Thị N1 trình bày:

Khoảng năm 2008-2009, bà Trần Thị N1 là người được cấp quyền sử dụng đất diện tích 5.553m², thửa đất số 22, tờ bản đồ số 23 tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Cùng thời điểm năm 2009 bà N1 chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên cho ba người thanh niên khoảng 20-30 tuổi, theo bà N1 biết là ba anh em. Khi thỏa thuận chuyển nhượng bà N1 ký thỏa thuận với đại diện một trong ba người. Đến khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì bà N1 ký riêng cho từng người để ra sổ riêng. Giá chuyển nhượng toàn bộ thửa đất là 759.000.000 đồng, còn ba người nhận chuyển nhượng phân chia như thế nào bà N1 không biết. Tại thời điểm chuyển nhượng bà N1 không biết ba người này đã có vợ hay chưa.

Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 54/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã quyết định:

  • - Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 217, 219, 227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ vào các Điều 33, 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng sau khy ly hôn.
    1. Ông Trương Công H được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H03088/QĐ-UB ngày 15/10/2009 do UBND huyện D cấp cho ông Trương Công H gồm:
      • Nhà tiền chế, loại cấp 4, diện tích 118,9m²;
      • Nhà vệ sinh diện tích 11,5m²;
      • Nhà vệ sinh diện tích 11,3m²;
      • 85 cây cao su trồng năm 2009.
    2. Ông Trương Công H phải thanh toán cho bà Trần Thị T phần giá trị tài sản được chia là 77.600.040 đồng (bảy mươi bảy triệu sáu trăm ngàn không trăm bốn mươi đồng).

6

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc phân chia tài sản chung sau khi ly hôn đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 400, tờ bản đồ số 23, diện tích đo đạc thực tế là 2057,4m² tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H03088/QĐ-UB ngày 15/10/2009 do UBND huyện D cấp cho ông Trương Công H.
  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc yêu cầu phân chia tài sản chung sau khi ly hôn đối với các tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 305, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương và Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 166, tờ bản đồ số 12.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên vềchi phí đo đạc, định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023 nguyên đơn bà Trần Thị T kháng cáo, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 06 tháng 10 năm 2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng kháng nghị theo hướng sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số số 54/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng thay đổi yêu cầu chia bằng tiền, không yêu cầu chia bằng hiện vật; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguồn gốc đất ông H được cấp trong thời kỳ hôn nhân với bà T4, đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị T, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia tài sản chung là quyền sử dụng đất tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H03088/QĐ-UB ngày 15/10/2009 do UBND huyện D cấp do ông Trương Công H đứng tên.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

7

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện dầu Tiếng trong thời hạn luật định nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và kháng cáo của bà Trần Thị T, thấy rằng: Bản án sơ thẩm số 54/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nhận định ông Trương Công H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 400, tờ bản đồ số 23, diện tích đo đạc thực tế 2057,4m², tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương từ nguồn tiền của mẹ đẻ ông H (bà Nguyễn Thị L1) cho riêng ông H là chưa phù hợp. Mặc dù ông H chứng minh được mẹ đẻ được nhận tiền đền bù do nhà nước thu hồi đất và có cho tiền ông H, ông H có giao dịch tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á – Chi nhánh Đ đối với số tiền 510.289.718 đồng. Tuy nhiên lời khai của ông H tại bút lục số 79 xác định bà L1 cho ông H 300.000.000 đồng, trong khi người đại diện của ông H trình bày ý kiến tại bút lục số 46, xác định ông H được bà L1 cho số tiền 510.289.718 đồng, tại văn bản đối chất bút lục số 91 và tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông H xác định ông H được cho số tiền 500.000.000 đồng. Bản thân ông H là người được bà L1 cho tiền nhưng không xác định được chính xác số tiền được cho. Lời khai của người làm chứng Trương Hữu Hoàng T3 và Nguyễn Văn L không đảm bảo tính khách quan vì ông T3 là em ruột của ông H và ông L là anh em cô cậu với ông H. Vì vậy, các chứng cứ nêu trên không chứng minh được việc ông H được mẹ đẻ tên Nguyễn Thị L1 cho riêng 500.000.000 đồng và ông H sử dụng số tiền này để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 400, tờ bản đồ số 23, tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 33 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 400, tờ bản đồ số 23 là tài sản chung của bà T và ông H nên cần phải chia đôi tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất.

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là có cơ sở một phần.

[2.2] Về kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị T yêu cầu được chia tài sản chung quyền sử dụng đất bằng tiền, xét thấy: quyền sử dụng đất tranh chấp được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của bà T ông H nên bà T yêu cầu được chia bằng tiền là có cơ sở chấp nhận, đối với yêu cầu được chia tài sản gắn liền trên đất là nhà tiền chế cấp 4 diện tích 118,9m2, hai nhà vệ sinh và cây trồng trên đất. Xét; sau khi ly hôn ông H trực tiếp nuôi người con chung tên Trương Quốc M sinh ngày 15/4/2009, đang sinh sống trong ngôi nhà trên đất, bà T đi làm tại D nên chia cho ông H quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là phù hợp. Ông H có trách nhiệm hoàn lại bằng tiền giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho bà T.

Giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp: 3.703.320.000 đồng, giá trị tài sản trên đất tranh chấp: 155.200.080 đồng. Xét công sứ đóng góp đối với tài sản

8

tanh chấp thì ông H là người trực tiếp quản lý, sử dụng, gìn giữ tôn tạo làm tăng giá trị tài sản nên chia cho ông H 60% giá trị tài sản tranh chấp là 2.315.112.048 đồng và chia cho bà T 40% giá trị tài sản tranh chấp là 1.543.408.032 đồng.

[3] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ một phần.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải nộp theo quy định pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà T không phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào Điều 148, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 217, 219, 227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ vào các Điều 33, 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Căn cứ vào điểm b khoản 5 Điều 27; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử;

Chấp nhận một phần kháng nghị số 10/QĐ-VKS-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị T.

Sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số số 54/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương như sau:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T đối với bị đơn ông Trương Công H về việc “Tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn”.
  2. Ông Trương Công H được chia: quyền sử dụng đất diện tích 2057,4m² tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H03088/QĐ-UB ngày 15 tháng 10 năm 2009 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp, do ông Trương Công H đứng tên, (Có sơ đồ, bản vẽ kèm theo) và toàn bộ tài sản trên đất, gồm: nhà tiền chế, loại cấp 4, diện tích 118,9m²; nhà vệ sinh diện tích 11,5m²; nhà vệ sinh diện tích 11,3m²; 85 cây cao su trồng năm 2009.

9

Buộc ông Trương Công H có trách nhiệm hoàn lại cho bà Trần Thị T 40% giá trị tài sản tranh chấp là 1.543.408.032 đồng (Một tỷ, năm trăm bốn mươi ba triệu, bốn trăm lẻ tám nghìn, không trăm ba mươi hai đồng).

Sau khi thanh toán xong cho bà T số tiền trên, ông H có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền lập thủ tục đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông H không thanh toán số tiền trên, thì ông H còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

  1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá:
  2. Bà Trần Thị T phải nộp 2.286.346 đồng (Hai triệu, hai trăm tám mươi sáu nghìn, ba trăm bốn mươi sáu đồng), bà T đã nộp xong.

    Ông Trương Công H phải nộp 2.286.346 đồng (Hai triệu, hai trăm tám mươi sáu nghìn, ba trăm bốn mươi sáu đồng). Ông H đã nộp 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), ông H còn phải nộp 1.286.346 (Một triệu, hai trăm tám mươi sáu nghìn, ba trăm bốn mươi sáu đồng) để hoàn lại cho bà T.

  1. Về án phí:
  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Trần Thị T phải nộp 58.302.240 đồng (Năm mươi tám triệu, ba trăm lẻ hai nghìn, hai trăm bốn mươi đồng), được khấu trừ 10.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số AA/2021/0007242 ngày 28 tháng 02 năm 2022 và 1.637.151 đồng tại Biên lai thu tiền số AA/2021/0009291 ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Bà T còn phải nộp 46.665.089 đồng (bốn mươi sáu triệu, sáu trăm sáu mươi lăm nghìn, không trăm tám mươi chín đồng).

    Ông Trương Công H phải nộp nộp 78.302.240 đồng (Bảy mươi tám triệu, ba trăm lẻ hai nghìn, hai trăm bốn mươi đồng),.

  1. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị T không phải nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Văn LuậtBùi Ngọc Thạch
Nguyễn Văn Tài

10

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Tổ HCTP TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger