Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 27/2024/DS-ST

Ngày: 18/9/2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương
Bà Trần Thị Thu Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 20về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-DS ngày 06/9/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần C;

    Địa chỉ: Số A T, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Tuấn V - Trưởng phòng tổng hợp Ngân hàng Thương mại cổ phần C - Chi nhánh T; Đại diện theo uỷ quyền, văn bản ủy quyền số 493/UQ-CNTTH-TH ngày 02/7/2024.

    Địa chỉ: B L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

  • - Bị đơn: Bà Trần Thị Lệ H, sinh năm 1977;

    Địa chỉ: Số C T, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trọng H1, sinh năm 1976;

    Địa chỉ: Thôn V, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng thương mại cổ phần C (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng C) có cho bà Trần Thị Lệ H vay theo 02 hợp đồng tín dụng:

  • Hợp đồng cho vay số 03/2023-HĐCV/NHCT460-TTLH ngày 01/3/2023 số tiền vay 150.000.000đ, mục đích sử dụng: mua sắm đồ dùng gia đình, Thời hạn trả nợ là 60 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên. Lãi suất cho vay trong hạn là 12%/năm; Lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngày 01/3/2023 khách hàng đã rút toàn bộ số tiền vay 150.000.000đ theo Hợp đồng cho vay và giấy nhận nợ nêu trên.

  • Hợp đồng phát thẻ tín dụng số 06/2022-TTLHOA ngày 13/6/2022 hạn mức tín dụng tối thiểu phát thẻ: 30.000.000đ. Thời hạn hiệu lực của tổng hạn mức tín dụng thẻ: 36 tháng.

Các khoản vay này không có tài sản bảo đảm.

Quá trình thực hiện các hợp đồng nêu trên phía bà Trần Thị Lệ H vi phạm cam kết về nghĩa vụ trả nợ vay, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà vẫn không trả cho Ngân hàng C, vì vậy Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu bà H cùng với ông Nguyễn Trọng H1 trả số tiền còn nợ. Tính đến ngày 18/9/2024 số tiền bà Trần Thị Lệ H còn nợ Ngân hàng cụ thể:

  • Đối với Hợp đồng tín dụng số 03/2023-HĐCV/NHCT460-TTLH số tiền còn phải thanh toán là: 126.377.043 đồng. Trong đó, nợ gốc: 114.100.000đ, nợ lãi 11.474.064 đồng và lãi phạt 403.764 đồng, lãi chậm trả 399.215đ.

  • Đối với Hợp đồng thẻ tín dụng số 06/2022-TTLHOA ngày 13/6/2022. Tính đến ngày 18/9/2024 dư nợ còn lại là 13.682.889 đồng. Trong đó, dư nợ gốc thẻ: 8.818.541đ, nợ lãi: 3.784.703đ và nợ phí: 1.079.645đ.

Tổng cộng cả hai hợp đồng : 140.059.932 đồng

Bị đơn, bà Trần Thị Lệ H trình bày: Bà công nhận có ký hợp đồng vay và mở hợp đồng phát thẻ tín dụng như đại diện Ngân hàng C trình bày. Đối với khoản vay tại các hợp đồng tính dụng trên là hàng tháng Ngân hàng đều tự động trừ qua tài khoản lương của bà. Do từ tháng 9 năm 2023 bà bị tạm giam nên việc trả nợ có gián đoạn, có khó khăn. Bà đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để bà tiếp tục trả qua tài khoản lương hàng tháng. Đối với các khoản vay tại các Hợp đồng trên, chỉ một mình bà ký kết với Ngân hàng, chồng bà không biết và không liên quan.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Trọng H1 trình bày: Ông không biết việc bà Trần Thị Lệ H có ký hợp đồng vay, có mở thẻ tín dung tại Ngân hàng, vì khi vay bà H không bàn bạc gì với ông.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà phát biểu:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự;

Về nội dung: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trần Thị Lệ H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện buộc bà H phải thanh toán toàn bộ tiền nợ gốc, nợ lãi là có căn cứ. Vì vậy đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà H phải trả nợ tổng cộng cả hai hợp đồng là 140.059.932 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị Lệ H vắng mặt tại phiên toà có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Trọng H1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng ông từ chối nhận. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Ngày 01/3/2023 giữa bà Trần Thị Lệ H và Ngân hàng C có ký kết hợp đồng tín dụng số 03/2023-HĐCV/NHCT460-TTLH với nội dung cơ bản: bà H vay 150.000.000đ, mục đích sử dụng: mua sắm đồ dùng gia đình, Thời hạn trả nợ là 60 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên. Lãi suất cho vay trong hạn là 12%/năm; Lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; Lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Ngày 13/6/2022 giữa bà H và Ngân hàng C tiếp tục ký Hợp đồng phát thẻ tín dụng số 06/2022-TTLHOA với nội dung cơ bản: hạn mức tối thiểu phát thẻ 30.000.000đ. Thời hạn hiệu lực của tổng hạn mức tín dụng thẻ: 36 tháng.

Các hợp đồng này được ký kết hoàn toàn tự nguyện và đúng thẩm quyền nên có hiệu lực pháp luật.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trần Thị Lệ H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Cụ thể các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng nêu trên bắt đầu quá hạn từ ngày 10 tháng 01 năm 2024. Tính đến ngày 18/9/2024 số tiền bà Trần Thị Lệ H còn nợ Ngân hàng cụ thể:

Đối với hợp đồng tín dụng số 03/2023-HĐCV/NHCT460-TTLH số tiền còn phải thanh toán là: 126.377.043 đồng. Trong đó, nợ gốc: 114.100.000đ, nợ lãi: 11.474.064 đồng và lãi phạt: 403.764 đồng, lãi chậm trả: 399.215đ.

Đối với hợp đồng thẻ tín dụng số 06/2022-TTLHOA ngày 13/6/2022 tính đến ngày 18/9/2024 là 13.682.889 đồng. Trong đó, dư nợ gốc thẻ 8.818.541đ, nợ lãi: 3.784.703đ và nợ phí là 1.079.645đ.

Tổng cộng cả hai hợp đồng: 140.059.932 đồng.

Như vậy Ngân hàng C khởi kiện là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về trách nhiệm trả nợ: Việc bà H vay số tiền trên với mục đích sử dụng mua sắm đồ dùng gia đình (phục vụ cho mục đích tiêu dùng trong gia đình), căn cứ các quy định của pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân và gia đình, cần buộc bà H cùng chồng là ông Nguyễn Trọng H1 phải chịu trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền còn nợ, quy định tại Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên án phí dân sự sơ thẩm bà Trần Thị Lệ H và ông Nguyễn Trọng H1 phải chịu là: 7.003.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ và các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 351, 352 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thương vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần C (V1):

    • - Buộc bà Trần Thị Lệ H và ông Nguyễn Trọng H1 phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C 126.377.043 đồng. Trong đó, nợ gốc: 114.100.000đ, nợ lãi: 11.474.064 đồng và lãi phạt: 403.764 đồng, lãi chậm trả: 399.215đ theo hợp đồng tín dụng số 03/2023-HĐCV/NHCT460-TTLH.

    • - Buộc bà Trần Thị Lệ H và ông Nguyễn Trọng H1 phải liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C là 13.682.889 đồng. Trong đó, dư nợ gốc thẻ 8.818.541đ, nợ lãi: 3.784.703đ và nợ phí là 1.079.645đ theo hợp đồng thẻ tín dụng số 06/2022-TTLHOA ngày 13/6/2022.

    Tổng cộng hai khoản là: 140.059.932 đồng (làm tròn số 140.060.000đ)

    Kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị Lệ H, ông Nguyễn Trọng H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất mà bà H, ông H1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng được xác định theo thỏa thuận của các bên.

  2. Về án phí:

    • - Bà Trần Thị Lệ H và ông Nguyễn Trọng H1 phải chịu 7.003.000 đồng.

    • - Ngân hàng TMCP C không phải chịu án phí, hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.777.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 1606 ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hương Trà.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT. Huế;
  • - VKSND TX. Hương Trà;
  • - Chi cục THADS TX. Hương Trà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu dán;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hữu Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 27/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng phía bà Trần Thị Lệ H vi phạm cam kết về nghĩa vụ trả nợ vay, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà Hoa thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà vẫn không trả cho Ngân hàng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger