TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/DS-STNgày: 14/6/2024V/v “Tranh chấp quyền sử dụngđất, hủy giấy chứng nhận quyền sửdụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đinh Ngọc Tiến
- Ông Phạm Văn Tuất
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Đăng Phương Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 173/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ T, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Thôn M, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1964; cùng có nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị T1, sinh năm 1957; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Lê Văn C, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Lê Văn T2, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Lê Thị L, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Lê Thị P, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Bà T1, ông C, ông T2, bà L và bà P cùng ủy quyền cho ông Lê Văn N, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1964 tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 19/6/2023 được lập tại Ủy ban nhân dân xã C, thành phố C. Bà D, ông N có mặt.
- Ông Lê Đ, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố C; địa chỉ: Khu L, B P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Đại diện hợp pháp: Ông Võ Thế T3 – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố C – là đại diện ủy quyền theo Văn bản số 1505/UBND-TNMT ngày 02/4/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Lê Ngọc Y – sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn M, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Võ Hoài T4 – sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn M, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Hữu P1 – sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Văn D1 – sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn M, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Năm 2008, nguyên đơn có nhận chuyển nhượng nhượng công khai hoang của ông Lê Văn T2 một thửa đất có diện tích khoảng 2.000m² tại thôn M, xã C, TP C, tỉnh Khánh Hòa (đính kèm giấy viết tay) có tứ cận như sau:
- Đông giáp: ruộng ông T1 T5
- Tây giáp: ruộng ông D1 và ruộng ông Y
- Nam giáp: ruộng ông T2
- Bắc giáp: mương nước
Nay thuộc thửa đất số 31 tờ bản đồ số 42 có diện tích 1872.8m². Nguyên đơn là người trực tiếp canh tác sản xuất trên thửa đất đó (trồng cỏ nuôi bò) liên tục từ năm 2008 cho đến nay, sử dụng ổn định và không có ai tranh chấp. Tuy nhiên, không hiểu vì sao UBND thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 356354, số vào sổ CH05759 cấp ngày 16/9/2014 cho ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Ngọc D đối với thửa đất trên là có sự nhầm lẫn. Trong khi đó họ không phải là người có hộ khẩu thường trú tại thôn M; hơn nữa, họ
không phải là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên mảnh đất đó mà là chủ kinh doanh buôn bán.
Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày bổ sung, tuy nguồn gốc đất từ ông nội của bị đơn nhưng không sử dụng và bỏ hoang. Sau đó ông T2 khai hoang và chuyển nhượng công khai hoang lại cho nguyên đơn từ năm 2008, nguyên đơn đã quản lý, sử dụng từ đó đến nay.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: Yêu cầu yêu cầu xác định quyền sử dụng đất thửa số 31 tờ bản đồ số 42 có diện tích 1872.8m² tại thôn M, xã C, TP C, tỉnh Khánh Hòa là của nguyên đơn và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 356354, số vào sổ CH05759 cấp ngày 16/9/2014 cho ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Ngọc D đối với thửa đất số 31 tờ bản đồ số 42 có diện tích 1872.8m².
Bị đơn ông Lê Văn N và bà Lê Thị Ngọc D2 cùng thống nhất trình bày: Nguồn gốc lô đất thuộc thửa đất số: 31, tờ bản đồ sô: 42 tại thôn M, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa là đất của ông nội của ông Lê Văn N, sau đó vợ chồng bị đơn đơn được gia đình giao cho tiếp tục canh tác, khai hoang và được Nhà nước công nhận và cấp giấy quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH05759 vào 16/09/2014. Sau đó vợ chồng bị đơn cho em ruột ông N là Lê Văn T2 tiếp tục canh tác và quản lý từ đó đến bây giờ. Năm 2022, khi bị đơn vào đất thì phát hiện gia đình vợ chồng ông nguyên đơn trồng cỏ nuôi và thả bò ăn nên yêu cầu trả đât lại cho bị đơn. Trong lúc nói chuyện thì nguyên đơn có nói rằng đất này do ông Lê Văn T2 bán lại với giá 25.000.000 đồng cách đây 3, 4 năm. Sau đó bị đơn có thương lượng với bà T theo tình cảm anh em gia đình rằng nếu ông Lê Văn T2 có bán lại đất cho bà M thì gia đình anh em bị đơn sẽ hoàn lại sô tiên đó. Nhưng nguyên đơn không đồng ý và có những thái độ chứi bới, thô tục, hăm dọa. Việc nguyên đơn quản lý, sử dụng đất của bị đơn là bất hợp pháp, do vậy chúng tôi không đồng ý với các yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T2 trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 31 tờ bản đồ số 42 tọa lạc tại M, xã C, C là của ông bà nội tôi. Sau đó ông bà nội mất thì để lại thửa đất trên cho tất cả anh em chúng tôi. Sau đó, các anh em trong gia đình tôi thống nhất đồng ý cho con trai cả là Lê Văn N và vợ ông N là bà Nguyễn Thị Ngọc D đứng tên và ông N, bà D đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi ông N và bà D được cấp sổ đỏ năm 2014 thì có giao thửa đất này cho tôi quản lý sử dụng. Sau đó, tôi bận công việc nên không có thời gian quản lý sử dụng, tôi cho bà Trần Thị Mỹ T thuê đất này với giá 4.000.000 đông, thời gian thuê từ năm 2015 đến năm 2018. Đến năm 2019 tôi có mượn 2 lần tiền (không làm giấy vay tiền) của bà T với tổng số tiền là 20.000.000 đồng và nói với bà T là tôi cho bà T thuê lại phần đất trên không lấy tiền cho thuê. Thực tế bà T bắt đầu sử dụng thửa đất trên là vào năm 2015. Giấy sang nhượng công khai hoang đất mà bà T cung câp là do bà T tự ghi và tôi không ký vào giây này, chữ ký trong giây này không phải của tôi. Nêu cần thiết
đê nghị Tòa án giám định chữ ký của tôi trong giấy này. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì tôi hoàn toàn không đồng ý.
Sau khi có kết quả giám định chữ ký, tôi vẫn khẳng định không viết giấy sang nhượng gì cho bà T. Đầu năm 2022, bà T có đến nhà yêu cầu tôi ký xác nhận mượn tiền, tôi có ký trên 1 tờ giấy trắng, tôi nghĩ là bà T đã tự ghi nội dung sang nhượng đất 2008.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông, bà T1, C, L, P trình bày: Về nguồn gốc thửa đất số 31 tờ bản đồ số 42 diện tích 1872,8m tọa lạc tại thôn M, xã C, C, Khánh Hòa là của ông bà nội chúng tôi khai hoang từ rất lâu, sau đó khi ông bà nội mất thì tất cả anh chị em trong gia đình thống nhất giao thửa đất này cho vợ chồng ông N, bà D quản lý sử dụng từ năm 1998 đến nay. Chúng tôi thống nhất để ông N, bà D được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này và không có ý kiến gì. Đến năm 2014 thì ông N, bà D được UBND thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH05759 ngày 16/9/2014. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông N, bà D có giao lại thửa đất trên cho ông Lê Văn T2 quản lý sử dụng. Sau này ông T2 bận công việc không có thời gian quản lý sử dụng nên đã cho bà Trần Thị Mỹ T thuê lại thửa đất trên vào năm 2015. Trong quá trình thuê đất thì bà T đã cho rằng bà là chủ sử dụng đất và hiện nay khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với ông N, bà D là hoàn toàn không có căn cứ. Chúng tôi đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đ trình bày: Tôi là chồng của bà T, tôi có cùng ý kiến và yêu cầu với bà T. Tôi biết việc bà T nhận chuyển nhượng phần diện tích đất tranh chấp của ông Lê Văn T2 khoảng năm 2008. Tôi và bà T trực tiếp canh tác trên đất này từ năm 2008. Tôi không có yêu cầu gì. Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ T. Bản thân tôi không có ý kiến, yêu cầu gì bổ sung thêm. Vì lý do bận công việc, tôi yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết, xét xử vắng mặt tôi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thành phố C trình bày:
Về hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ngày 28/5/2012 ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Ngọc D nộp hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu theo Dự án Vlap (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận) đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 42, diện tích đăng ký: 1.872,8,4m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác, tọa lạc tại thôn H, xã C, thành phố C.
Nguồn gốc sử dụng đất do UBND xã C xác nhận như sau: Do ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Ngọc D khai hoang và sử dụng từ thời điểm năm 1998 đến nay.
Tình trạng tranh châp, khiếu nại về đất đai được UBND xã C xác nhận: Tại thời điêm xin cấp Giây chứng nhận đối với thửa đất trên không tranh chấp, không khiếu nại.
Trên cơ sở kết quả kiểm tra xác minh của UBND xã C; kết quả thâm định hô sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác nhận điêu kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ1 tại thành phố C) và kết quả kiểm tra, tham mưu của Phòng T6, UBND thành phố C đã cấp Giấy chứng nhận số BN 356354, số vào sổ CH05759 ngày 16/9/2014 cho ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Ngọc D đối với thửa đất trên theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Ý kiến của UBND thành phố C về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa người khởi kiện là bà Trần Thị Mỹ T và người bị kiện là ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Ngọc D: Do thửa đất hiện đang tranh chấp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì vậy căn cứ quy định tại Điêu 203 Luật Đất đai năm 2013, UBND thành phố C đê nghị Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xem xét giải quyết yêu câu của người khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật.
Hiện nay, Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND thành phố C bận công tác nên không tham gia vụ án được. Đê nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi đối thoại, hòa giải, làm việc và phiên xét xử của Tòa án.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn D1 trình bày: Tôi có một thửa ruộng tọa lạc tại xứ Đ, thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Phía Đông thửa ruộng của tôi có giáp ranh với phần đất mà bà Trần Thị Mỹ T đang canh tác nên tôi chứng kiến được xuyên suốt quá trình sử dụng của thửa đất này. Trong quá trình tôi sử dụng thửa ruộng trên của tôi thì vào khoảng năm 2008 - 2009, tôi thấy bà Trần Thị Mỹ T sử dụng, canh tác trồng cỏ nuôi bò trên mảnh đất giáp ranh nói trên liên tục trong suốt một thời gian dài cho đến hiện nay. Còn lý do vì sao bà T sử dụng mảnh đất này thì chúng tôi không biết.
Người làm chứng ông Võ Hoài T4 trình bày: Nguyên trước đây vào khoảng năm 1993, tôi có khai hoang được một mảnh đất tọa lạc tại thôn M (nay là thôn H), xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa với diện tích khoảng 1600m² (phần đất mà bà Trần Thị Mỹ T đang tranh chấp với vợ chồng ông Lê Văn N, bà Nguyễn Thị Ngọc D). Tôi quản lý, sử dụng liên tục mảnh đất nói trên để trồng cỏ nuôi bò, trồng ớt. Đến khoảng tầm đầu năm 2008 - 2009 thì ông Lê Văn T2 đến đòi lại vì cho rằng đây là đất của ông bà để lại cho gia đình ông. Bởi vì không muốn phát sinh tranh chấp và tôi thấy mảnh đất này cũng tương đối cằn cỗi nên tôi đã đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của ông T2. Sau khi trả lại đất thì tôi thấy bà Trần Thị Mỹ T quản lý, sử dụng mảnh đất này liên tục cho đến hiện nay. Còn lý do vì sao bà T được sử dụng đất thì tôi không biết.
Người làm chứng ông Nguyễn Hữu P1 thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn D1.
Người làm chứng ông Lê Ngọc Y thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Hữu P1 và trình bày thêm: Trong suốt thời gian bà Mỹ T canh tác, tôi không thấy bà D, ông N canh tác trên thửa đất.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ việc để xét xử sơ thẩm đến trước thời điểm nghị án. Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ việc. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về chi phí tố tụng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Thửa đất số 31 – Tờ bản đồ số 42 có diện tích 1872,8m² tọa lạc thôn M, xã C, TP C, tỉnh Khánh Hòa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Ngọc D theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BN356354, số vào sổ cấp GCN: CH05759 do UBND thành phố C cấp ngày 16/9/2014. Theo nguồn gốc đất được thể hiện trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận là do ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị Ngọc D khai hoang và sử dụng từ thời điểm năm 1998 sử dụng ổn định, không có tranh chấp.
[2.2] Nguyên đơn trình bày đã nhận công khai hoang đất thửa đất số 31 – Tờ bản đồ số 42 từ năm 2008 từ ông Lê Văn T2 theo Giấy sang nhượng đề ngày 10/02/2008. Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy sang nhượng công khai hoang đất đề ngày 10/02/2008 thì thấy rằng: Tại thời điểm chuyển nhượng, thửa đất do ông N, bà D khai hoang, quản lý. Theo biên bản xác minh của Tòa án ngày 09/8/2022 tại UBND xã C cũng thể hiện nội dung này. Như vậy, tại thời điểm 2008, tuy UBND thành phố C chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N, bà D nhưng lô đất cũng thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông N, bà D (theo xác nhận từ chính quyền địa phương là từ năm
1998). Do đó, ông Lê Văn T2 không có quyền định đoạt đối với thửa đất này và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy sang nhượng công khai hoang đất đề ngày 10/02/2008 là không phát sinh hiệu lực theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật Dân sự 2005.
[2.3] Về quá trình sử dụng đất trên thực tế, nguyên đơn có trình bày đã quản lý, sử dụng đất từ năm 2008 theo xác nhận của một số người làm chứng như ông Lê Ngọc Y, Võ Hoài T4, Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Văn D1. Tuy nhiên, lời khai này của nguyên đơn là không phù hợp với xác minh của UBND xã C trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BN356354, số vào sổ cấp GCN: CH05759 do UBND thành phố C cấp ngày 16/9/2014. Trong nội dung biên bản hòa giải giải quyết tranh chấp đất đai ngày 18/3/2022 của UBND xã C, ông Đào Văn N1 là Thôn T, xã C, TP C, tỉnh Khánh Hòa cũng xác định lô đất có nguồn gốc từ gia đình dòng họ Lê lại phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn về nguồn gốc đất. Bản thân nguyên đơn cũng xác định, trong quá trình quản lý, sử dụng đã không tiến hành kê khai, đăng ký gì với các cơ quan Nhà nước. Ông Lê Văn T2, người có tên trong Giấy sang nhượng công khai hoang đất đề ngày 10/02/2008 cũng không xác nhận có xác lập giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn mà cho rằng khi được gia đình giao quản lý đất thì cho bà Trần Thị Mỹ T thuê đất từ 2015. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/8/2022 và lời khai của nguyên đơn đã thể hiện trên đất có 04 cây dừa có tuổi từ 3 năm trở xuống và 01 cây bạch đàn không xác định tuổi là của nguyên đơn (theo nguyên đơn trình bày đã trồng từ khoản 5 năm trước). Còn hàng rào, 47 trụ bê tông là của bị đơn. Như vậy, các tài sản đang tồn tại trên đất cũng không có cơ sở chứng minh nguyên đơn đã quản lý, sử dụng đất từ năm 2008 như nguyên đơn trình bày. Từ những nhận định và chứng cứ trên, Hội đồng xét xử xác định không có cơ sở để xác định nguyên đơn đã quản lý, sử dụng đất từ năm 2008 và việc nguyên đơn quản lý, sử dụng đất hiện nay là theo giao dịch không hợp pháp từ ông Lê Văn T2. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận.
[2.4] Đối với các tài sản trên đất hiện có gồm 47 trụ bê tông, hàng rào, 12 cây dừa, 01 cây bạch đàn nằm trong đất tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận, các đương sự cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[2.5] Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BN356354, số vào sổ cấp GCN CH05759 do UBND thành phố C cấp ngày 16/9/2014 của nguyên đơn: Hội đồng xét xử xét thấy, hồ sơ, trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là hoàn toàn hợp pháp. Về nội dung, nguyên đơn không cung cấp tài liệu chứng cứ gì chứng minh đã sử dụng đất tại thời điểm xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn. Do vậy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số phát hành BN356354, số vào sổ cấp GCN: CH05759 do UBND thành phố C cấp ngày 16/9/2014.
[3] Về chi phí tố tụng:
[3.1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn đã tạm ứng số tiền chi phí tố tụng bao gồm: tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 7.000.000 đồng và tiền chi phi giám định là 6.540.000 đồng.
[3.2] Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 7.000.000 đồng, khấu trừ tạm ứng, nguyên đơn đã nộp đủ số tiền này theo Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3.3] Đối với chi phí giám định: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cung cấp Giấy sang nhượng công khai hoang đất đề ngày 10/02/2008 đứng tên Lê Văn T2 nhưng ông T2 cho rằng không phải chữ ký của mình nên nguyên đơn phải yêu cầu trưng cầu giám định. Nay kết quả giám định chứng minh yêu cầu trưng cầu giám định là có căn cứ nên ông Lê Văn T2 phải chịu chi phí giám định theo quy định tại Điều 161 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó ông T2 phải trả lại cho nguyên đơn số tiền chi phí giám định là 6.540.000 đồng.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Điều 128 của Bộ luật Dân sự 2005;
- Điều 17 của Luật đất đai;
- Khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 157, Điều 161, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T về việc xác định quyền sử dụng đất thửa số 31 tờ bản đồ số 42 có diện tích 1872.8m² tại thôn M, xã C, TP C, tỉnh Khánh Hòa là của nguyên đơn.
2. Bác yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BN356354, số vào sổ cấp GCN: CH05759 do UBND thành phố C cấp ngày 16/9/2014 của nguyên đơn.
3. Chi phí tố tụng:
- Bà Trần Thị Mỹ T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 7.000.000 đồng, khấu trừ tạm ứng, bà T đã nộp đủ số tiền này.
- Ông Lê Văn T2 phải chịu chi phí giám định là 6.540.000 đồng, do bà T đã tạm ứng, nên ông T2 trả cho bà Trần Thị Mỹ T 6.540.000 đồng (Sáu triệu, năm trăm bốn mươi nghìn đồng) chi phí giám định.
4. Án phí: Bà Trần Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2021/0007005 ngày 10/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, hoàn lại cho bà T 2.200.000 đồng (hai triệu, hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiếu |
Bản án số 27/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 27/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Năm 2008, nguyên đơn có nhận chuyển nhượng nhượng công khai hoang của ông Lê Văn Thủy một thửa đất có diện tích khoảng 2.000m2 tại thôn Mỹ Thanh, xã Cam Thịnh Đông, TP Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa (đính kèm giấy viết tay) có tứ cận như sau: • Đông giáp: ruộng ông Tí Thải • Tây giáp: ruộng ông Dục và ruộng ông Yến • Nam giáp: ruộng ông Thủy • Bắc giáp: mương nước Nay thuộc thửa đất số 31 tờ bản đồ số 42 có diện tích 1872.8m2. Nguyên đơn là người trực tiếp canh tác sản xuất trên thửa đất đó (trồng cỏ nuôi bò) liên tục từ năm 2008 cho đến nay, sử dụng ổn định và không có ai tranh chấp. Tuy nhiên, không hiểu vì sao UBND thành phố Cam Ranh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 356354, số vào sổ CH05759 cấp ngày 16/9/2014 cho ông Lê Văn Nhiều và bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên đối với thửa đất trên là có sự nhầm lẫn. Trong khi đó họ không phải là người có hộ khẩu thường trú tại thôn Mỹ Thanh; hơn nữa, họ không phải là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên mảnh đất đó mà là chủ kinh doanh buôn bán. Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày bổ sung, tuy nguồn gốc đất từ ông nội của bị đơn nhưng không sử dụng và bỏ hoang. Sau đó ông Thủy khai hoang và chuyển nhượng công khai hoang lại cho nguyên đơn từ năm 2008, nguyên đơn đã quản lý, sử dụng từ đó đến nay. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: Yêu cầu yêu cầu xác định quyền sử dụng đất thửa số 31 tờ bản đồ số 42 có diện tích 1872.8m2 tại thôn Mỹ Thanh, xã Cam Thịnh Đông, TP Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa là của nguyên đơn và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 356354, số vào sổ CH05759 cấp ngày 16/9/2014 cho ông Lê Văn Nhiều và bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên đối với thửa đất số 31 tờ bản đồ số 42 có diện tích 1872.8m2.
