trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 27/2024/DS-PT

Ngày 20 - 5 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tặng cho quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Túc

Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Nguyễn Thị Kim Yến – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 14 và ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2023/TLPT-DS ngày 21 tháng 12 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 44/2024/QĐ-PT ngày 21/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 64/2024/QĐ-PT ngày 17/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Cụ Võ Thị G - sinh năm 1949; cư trú tại tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng C – sinh năm 1961; cư trú tại số B đường T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị đơn: Ông Nguyễn B - sinh năm 1978 và bà Đặng Thị H - sinh năm 1982; cư trú tại tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2

  1. Ông Nguyễn Y - sinh năm 1965;
  2. Bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1968;
  3. Bà Nguyễn Thị T1 (T2) - sinh năm 1973;
  4. Bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1987;
  5. Bà Phạm Thị D - sinh năm 1991;
  6. Cháu Nguyễn Phạm Thúy L1 - sinh năm 2016;

* Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Phạm Thúy L1: Bà Phạm Thị D (mẹ của cháu L1).

Cùng cư trú tại tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

  1. Bà Nguyễn Thị C1 - sinh năm 1975; cư trú tại xóm E, thôn D, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các ông, bà Nguyễn Y, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1 (T), Nguyễn Thị C1, Nguyễn Thị L, Phạm Thị D và cháu Nguyễn Phạm Thúy L1: Ông Nguyễn Hồng C – sinh năm 1961; cư trú tại số B đường T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

  1. Văn phòng C2

Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn P – Trưởng Văn phòng.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Minh Đ – sinh năm 1957; cư trú tại tổ dân phố L, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người kháng cáo: Cụ Võ Thị G là nguyên đơn.

(Cụ Võ Thị G và các ông, bà Nguyễn B, Đặng Thị H, Nguyễn Y, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1 (T5), Nguyễn Thị L, Nguyễn Hồng C có mặt tại phiên tòa; đại diện Văn phòng C2 và bà Phạm Thị D vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/02/2022, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 14/4/2022, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là cụ Võ Thị G trình bày.

Nguyên thửa đất số 511, tờ bản đồ số 19, diện tích 631m² (đất trồng cây hàng năm khác) tại xã P, huyện Đ nay là phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là thửa 511) là của cha, mẹ cụ tặng cho cụ sau khi qua đời. Ngày 31/12/2014, cụ được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện Đ (nay là thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCNQSDĐ) đối với thửa 511. Cụ có 06 người con, trong đó có ông Nguyễn B. Các con của cụ đã có gia đình và ở riêng; cụ sống một mình, không ai

3

chăm sóc. Các giấy tờ về quyền sử dụng đất được cụ giữ tại nhà. Ngày 30/8/2017, con trai và con dâu của cụ là ông Nguyễn B, bà Đặng Thị H lợi dụng cụ không biết đọc, không biết viết, chở cụ đến Văn phòng C2 và ép buộc cụ lăn tay điểm chỉ vào giấy tờ nhưng không nói với cụ về nội dung giấy tờ đó trước khi lăn tay; lúc đó, ông B và bà H cũng không đọc cho cụ nghe, nên cụ không biết văn bản có nội dung gì. Gần đây, khi các con của cụ xem lại giấy tờ thì biết được quyền sử dụng đất của cụ đã được tặng cho ông B, bà H và nói với cụ thì cụ mới biết việc cụ điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho ông B, bà H thửa 511 vào năm 2017. Cụ có nhiều người con nên cụ không có ý định tặng cho ông B, bà H thửa 511. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do Văn phòng C2 công chứng ngày 30/8/2017 là giao dịch dân sự bị lừa dối, phản ánh sai lệch ý chí, nguyện vọng của cụ vì cụ không hề có ý định tặng cho quyền sử dụng đất cho ông B, bà H. Mặt khác, thửa 511 có nguồn gốc của cha, mẹ cụ tạo lập cho vợ chồng cụ theo Giấy phân chia ruộng đất cho con đề ngày 20/8/1975. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 thì thửa 511 là tài sản chung của cụ và cụ Nguyễn B1. Năm 2006, cụ B1 chết không để lại di chúc. Vì vậy, cụ tự ý tặng cho ông B, bà H toàn bộ thửa đất là không đúng.

Nay, cụ yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng được Văn phòng C2 chứng thực số 1537, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/8/2017 vô hiệu; hủy nội dung chỉnh lý biến động do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q - Chi nhánh thị xã Đ xác nhận ngày 13/9/2017 tại trang tư trong GCNQSDĐ thửa 511 và điều chỉnh GCNQSDĐ sang tên cụ. Tại phiên tòa, cụ thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể cụ yêu cầu hủy GCNQSDĐ số phát hành DD593890, số vào sổ SC08183 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp cho ông Nguyễn B, bà Đặng Thị H ngày 14/01/2022 đối với thửa 511.

* Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là ông Nguyễn B, bà Đặng Thị H cùng trình bày:

Cụ Võ Thị G là mẹ đẻ của ông. Nguyên thửa 511 thuộc số hiệu 185, diện tích 01 sào 03 thước được ông, bà ngoại của ông là cố Võ S và cố Trần Thị Q (đều đã chết) tặng cho riêng cụ G vào năm 1975 theo Giấy phân chia ruộng đất cho con lập ngày 20/8/1975 (âm lịch), có xác nhận của UBND cách mạng thôn T, xã P, huyện Đ (nay là tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi được tặng cho, cụ G đã quản lý, sử dụng ổn định; sau đó, cụ G đi đăng ký, kê khai và được UBND huyện Đ (nay là thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi cấp GCNQSDĐ thửa 511 vào ngày 31/12/2014.

Ngày 30/8/2017, cụ G tặng cho ông, bà thửa 511 được Văn phòng C2 công chứng số 1537, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD. Sau đó ông, bà đã thực hiện đầy đủ các

4

thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định và đã đăng ký biến động trong GCNQSDĐ vào ngày 13/9/2017 và ngày 14/01/2022, ông bà đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp đổi GCNQSDĐ đối với thửa 511. Hợp đồng tặng cho thửa 511 giữa cụ G với ông, bà đã được Văn phòng C2 công chứng, đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013. Thời điểm công chứng hợp đồng tặng cho, cụ G hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép và có ông Nguyễn Minh Đ là người chứng kiến cho cụ G điểm chỉ vào hợp đồng vì cụ G già yếu, không ký được. Việc cụ G yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng tặng cho thửa 511, được Văn phòng C2 công chứng ngày 30/8/2017 vô hiệu là không có căn cứ, bị đơn không đồng ý. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ G.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C2 do ông Đặng Văn P - Trưởng Văn phòng trình bày:

Cụ Võ Thị G, ông Nguyễn B và bà Đặng Thị H đến Văn phòng C2 trình bày nhu cầu mong muốn làm hợp đồng tặng cho, theo đó cụ G tặng cho ông B, bà H thửa 511. Công chứng viên là ông Dương Hiển T3 và nhân viên là bà Đặng Thị Ý N yêu cầu hai bên xuất trình bản gốc, bản sao các giấy tờ như Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy đăng ký kết hôn/ Giấy chứng nhận kết hôn, GCNQSDĐ, Giấy chứng tử, Giấy khai sinh. Do cụ G không biết chữ nên Công chứng viên giải thích với hai bên phải có người làm chứng (là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc công chứng). Sau khi nghe Công chứng viên giải thích thì hai bên cung cấp giấy tờ tùy thân của người làm chứng là ông Nguyễn Minh Đ. Sau khi kiểm tra các giấy tờ liên quan đến công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của các bên tham gia là hợp lệ; nhân viên tiến hành soạn thảo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và in ra một bản cho các bên tham gia giao dịch đọc, kiểm tra, bổ sung, sửa chữa sai sót. Các bên đọc, hiểu văn bản và đồng ý in ra 05 bản chính, lần lượt từng người tham gia giao dịch ký từng trang và điểm chỉ trước mặt Công chứng viên; 01 bản chính lưu tại Văn phòng C2. Khi lập hợp đồng, cụ G hoàn toàn minh mẫn, tự nguyện; cụ G đã được nghe đọc lại hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và điểm chỉ trước mặt Công chứng viên, có sự chứng kiến của người làm chứng là ông Đ vì cụ G già yếu không ký được. Các thành viên tham gia giao dịch ký, điểm chỉ xong, Công chứng viên kiểm tra hồ sơ, văn bản lần cuối và ký từng trang trong văn bản; ký xong chuyển bộ phận văn thư lưu trữ đóng dấu, vào sổ công chứng giao dịch; giao cho các bên tham gia 04 bản chính. Đối với người làm chứng thì ông Đ ký và ghi rõ họ tên vào mục người làm chứng. Riêng đối với hợp

5

đồng tặng cho lưu tại Văn phòng thì ngoài việc ký, điểm chỉ và ghi rõ họ tên thì ông Đ sẽ phải ghi lời làm chứng vào hợp đồng. Hợp đồng tặng cho giao cho đương sự và hợp đồng tặng cho lưu lại Văn phòng C2 có lời xác nhận của người làm chứng đều là hợp đồng hợp pháp, có giá trị pháp lý như nhau.

Việc cụ G yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được Văn phòng C2 chứng thực số 1537, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/8/2017 vô hiệu là không có căn cứ, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các ông, bà Nguyễn Y, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1 (T), Nguyễn Thị C1, Nguyễn Thị L, Phạm Thị D cùng trình bày:

GCNQSDĐ thửa 511 do UBND huyện Đ (nay là thị xã Đ) cấp ngày 31/12/2014 cho cụ Võ Thị Giàu c nguồn gốc của ông, bà ngoại tạo lập và chia cho cụ G và cụ Nguyễn B1 là cha, mẹ của các ông, bà theo Giấy phân chia ruộng đất cho con lập ngày 20/8/1975, được chính quyền thôn T xác nhận ngày 29/8/1975. Năm 2006 cụ B1 chết, cụ B và các ông, bà tiếp tục canh tác thửa 511. Thửa 511 là tài sản chung của cụ B1 và cụ G. Cụ B1 chết, phát sinh thừa kế mà các ông, bà và cụ G là hàng thừa kế thứ nhất của cụ B1. Việc cụ G đứng tên trong GCNQSDĐ là do các ông, bà chưa yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ B1, nên cụ B không có quyền tặng cho riêng ông B thửa 511. Việc ông B chở cụ G đến Văn phòng C2 để điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là không đúng vì các đồng thừa kế của cụ B1 không biết việc này, đến ngày 19/11/2021, trong đám cưới cháu nội thì mọi người mới biết sự việc.

Nay, các ông bà yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 1537 được Văn phòng C2 công chứng ngày 30/8/2017 vô hiệu; hủy GCNQSDĐ do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 14/01/2022 cho ông Nguyễn B, bà Đặng Thị H tại thửa 511.

* Bản án số 57/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ đã xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 1537 được Văn phòng C2 chứng nhận ngày 30/8/2017 vô hiệu một phần đối với phần quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn B1 chết để lại có diện tích 263,69 m².

Không xem xét yêu cầu hủy GCNQSDĐ số phát hành DD 593890, số vào sổ SC08183 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 14/01/2022 cho ông Nguyễn B, bà Đặng Thị H tại thửa 511 vì GCNQSDĐ thửa 511 không phải là quyết định hành chính cá biệt.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các bên không yêu cầu giải quyết nên không

6

xét.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của đương sự.

* Ngày 09/10/2023 và ngày 20/10/2023, cụ Võ Thị Giàu c đơn kháng cáo, đơn kháng cáo bổ sung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm: Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 1537 được Văn phòng C2 công chứng ngày 30/8/2017 vô hiệu; hủy GCNQSDĐ số BT 805392, số vào sổ CH 03484 do UBND huyện Đ cấp ngày 31/12/2014 (nay đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp lại số phát hành DD593890, số vào sổ SC08183 ngày 14/01/2022 và buộc ông Nguyễn B, bà Đặng Thị H trả lại thửa 511 cho cụ để cụ chia thừa kế cho các con theo luật định.

* Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cụ Võ Thị G và các ông, bà Nguyễn Y, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1 (T), Nguyễn Thị C1, Nguyễn Thị L, Phạm Thị D và cháu Nguyễn Phạm Thúy L1 phát biểu ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 1537 được Văn phòng C2 công chứng ngày 30/8/2017 vô hiệu do bị lừa lăn tay mà không hề biết nội dung trước khi lăn tay, do đây là tài sản phát sinh thừa kế nên việc cho tặng riêng đã xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp các con của cụ G; hủy GCNQSDĐ số DD593890 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 14/01/2022 cho ông Nguyễn B, bà Đặng Thị H.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (vắng mặt lần thứ nhất không có lý do). Riêng chỉ có ông Nguyễn Y, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Hồng C là thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 73, 75, 76 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án số 57/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ; do đề nghị hủy án nên không xem xét kháng cáo của nguyên đơn; nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng khác được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

7

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Ngày 28/9/2023, Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xét xử vụ án nêu trên. Ngày 09/10/2023, cụ Võ Thị Giàu c đơn kháng cáo là còn trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, được chấp nhận xem xét, giải quyết.

[1.2] Tại phiên tòa, cụ Võ Thị G xác định không tiếp tục ủy quyền cho ông Nguyễn Y và ông Lê Văn M; ông Nguyễn B, bà Đặng Thị H cũng xác định không tiếp tục ủy quyền cho ông Nguyễn Đức N1 và ông Nguyễn Chí T4, mà trực tiếp tham gia tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại các ông Nguyễn Y, Lê Văn M, Nguyễn Đức N1, Nguyễn Chí T4 không phải là người tham gia tố tụng khác (người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn) trong vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 511, tờ bản đồ số 19, diện tích 631m² (đất trồng cây hàng năm khác) tại xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCNQSDĐ) cho cụ Võ Thị G vào ngày 31/12/2014 (viết tắt là thửa 511) là của cha, mẹ cụ G là cố Võ S và cố Trần Thị Q cho cụ G được thể hiện tại Giấy phân chia ruộng đất cho các con ngày 20/8/1975 (bút lục 319).

[2.2] Cụ G xác định thửa 511 là tài sản chung của vợ chồng cụ (chồng cụ là cụ Nguyễn B1); còn ông Nguyễn B, bà Đặng Thị H là con trai, con dâu của cụ G và cụ B1 thì cho rằng ông, bà ngoại (tức cố S và cố Q) chỉ cho một mình cụ G và cụ G là người đứng tên trong GCNQSDĐ, nên thửa 511 là tài sản riêng của cụ G. Tuy nhiên, Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (có hiệu lực tại M ngày 25/3/1977) quy định: Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa 511 là tài sản chung của cụ G và cụ B1 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.3] Cụ G cho rằng ông B, bà H lợi dụng việc cụ không biết đọc, không biết viết, lừa chở cụ đến Văn phòng C2 và ép cụ điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho ông B, bà H thửa 511 vào ngày 30/8/2017 mà không đọc nội dung cho cụ nghe, thì thấy rằng:

8

[2.3.1] Trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, cụ G không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cụ bị ép điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho ông B, bà H thửa 511. Mặt khác tại phiên tòa ngày 29/9/2022, cụ G và ông Nguyễn Minh Đ (người làm chứng việc tặng cho quyền sử dụng đất) đều trình bày khi nhân viên Văn phòng Công chứng cầm tay cụ G điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho thì cụ G không phản ứng gì (bút lục 199, 201, 203). Do đó, việc cụ G cho rằng cụ bị ép điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho là không có cơ sở chấp nhận.

[2.3.2] Tại trang 4 của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (bút lục 175-177) do Văn phòng C2 cung cấp thể hiện phía dưới dòng chữ Người làm chứng, Nguyễn Minh Đ có nội dung: “Tôi tên Nguyễn Minh Đ tôi làm chứng cho bà Võ Thị G vì bà già yếu không ký được. Tôi đã đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng cho bà nghe và bà đã đồng ý điểm chỉ vào hợp đồng trước mặt Công chứng viên”.

[2.3.3] Tại bản tự khai ngày 11/7/2022 (bút lục 71), ông Nguyễn Minh Đ trình bày: ... vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 30/8/2017, em Nguyễn B có đến nhà ông nhờ ông đến Phòng Công chứng, còn thiếm G do bà H, vợ ông B chở đi. Sau khi đến Phòng Công chứng để làm thủ tục hợp đồng tặng cho QSDĐ; nhân viên Văn phòng Công chứng làm thủ tục xong, hướng dẫn rồi sau đó cầm tay cụ G điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho QSDĐ trước, xong rồi đến ông B, bà H; cuối cùng là ông và ông có ghi dưới chữ ký của ông, cụ thể: Ông có làm chứng cho cụ G vì cụ già yếu, không ký được, ông đã đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng cho cụ nghe và cụ đã đồng ý điểm chỉ vào hợp đồng trước mặt Công chứng viên, còn nhân viên có đọc hay không đọc cho cụ G nghe hay không thì ông không để ý nên không biết...

[2.3.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ lại cho rằng ông không đọc cho cụ G nghe nội dung hợp đồng tặng cho ông B, bà H thửa 511; việc ông ghi nội dung làm chứng cho cụ G tại trang 4 trong hợp đồng tặng cho do Văn phòng C2 cung cấp là do bị ép buộc, nhưng ông Đ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông bị ép buộc viết lời làm chứng, trong khi đó ông Đ thừa nhận việc ông B nhờ ông đến Văn phòng C2 để làm chứng việc cụ G tặng cho đất ông B, bà H (bút lục 199, 200); ông Đ cũng xác định ông không có quyền lợi gì trong việc cụ G tặng cho ông B, bà H thửa 511 nên việc ông Đ cho rằng ông bị nhân viên Văn phòng Công chứng ép ông viết lời làm chứng là không có cơ sở đáng tin cậy.

[2.3.5] Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cụ G cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cụ G đều cho rằng tại thời điểm xác lập hợp đồng tặng cho thửa 511 vào ngày 30/8/2017 thì cụ B1 đã chết (cụ B1 chết năm 2006); thửa

9

511 là tài sản chung của cụ G và cụ B1 nên cụ G không có quyền định đoạt toàn bộ thửa 511 cho ông B, bà H vì ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế của cụ B1, được thể hiện tại các bút lục 237, 239, 259, 324, 327, 360, 474, 486, 492, 520, 523 là đã thể hiện một cách gián tiếp thừa nhận việc cụ G tặng cho ông B, bà H thửa 511.

[2.4] Từ những nhận định trên, không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của cụ G về việc cụ G bị ép buộc điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho ông B, bà H thửa 511. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ G, tuyên bố hợp đồng tặng cho ông B, bà H thửa 511 vô hiệu một phần đối với tài sản (nay là di sản) của cụ B1 là chính xác.

Tuy nhiên tại phần Quyết định của bản án, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ G, tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 1537 được Văn phòng C2 công chứng ngày 30/8/2017 vô hiệu đối với phần quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn B1 chết để lại có diện tích 263,69m² mà không xác định phần đất nói trên có kích thước các cạnh, giới cận, thuộc thửa đất, tờ bản đồ, tại đâu trong khi hình thể của thửa 511 không đồng đều, không cân đối vì chiều ngang phía trước (mặt tiền) giáp đường rộng hơn chiều ngang phía sau (mặt hậu), chiều ngang phía trước thể hiện có một số ngôi mộ, phía Bắc có trụ bê tông và móng hàng rào bằng đá xanh; không tuyên phần không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của cụ G để xác định hợp đồng tặng cho có hiệu lực một phần tương ứng với diện tích bao nhiêu của thửa 511, sẽ dẫn đến việc không thi hành án được.

[2.5] Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã phân tích, động viên để các đương sự tự thỏa thuận xác định vị trí, kích thước các cạnh, giới cận phần đất là tài sản của cụ G (đã tặng cho ông B, bà H); phần đất là di sản của cụ B1 chưa chia thừa kế nhưng các đương sự không thống nhất được, nên Tòa án cấp phúc thẩm không thể xác định vị trí, kích thước các cạnh, giới cận từng phần đất vì sẽ ảnh hưởng đến quyền kháng cáo của các đương sự và vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.6] Những sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm. Do đó, cần hủy bản án và chuyển hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

Do hủy bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của cụ G.

[2.7] Nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng khác được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

10

[2.8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Cụ G không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[2.9] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bên nguyên đơn không phù hợp với nhận định trên, nên không được chấp nhận.

[2.10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi là phù hợp với nhận định trên

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Hủy bản án số 57/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng khác được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  3. Cụ Võ Thị G không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - TAND thị xã Đức Phổ;
  • - Chi cục THADS thị xã Đức Phổ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thu Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/DS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 27/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger