Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ-PT.

Ngày: 06-12-2023.

V/v: "Ly hôn, tranh chấp chia tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Các thẩm phán: Ông Lê Xuân Hải

Ông Nguyễn Thanh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:

Bà Lữ Thị Xuân Dương- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số:21/2023/TLPT-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về: “Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn”.

Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số:155/2023/HNGĐ-ST ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:23/2023/QĐ-PT ngày 17 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Lương Thị K, sinh năm 1980; (có mặt)

Địa chỉ: A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

Bị đơn: anh Đỗ Văn H, sinh năm 1973; (có mặt)

Địa chỉ: C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn Đỗ Văn H: ông Lê Minh H1 –Luật sư – Công ty L1 TV Hãng Luật Thành Sen thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; (có mặt).

Địa chỉ: A Đường C, Phường D, T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Đình H2, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1953; cùng địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện P, Bình Định; (có mặt).

2

Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (có mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn anh Đỗ Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/02/2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lương Thị K trình bày:

Chị và anh Đỗ Văn H được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H không có trách nhiệm với gia đình, phần ai người đó sống từ đó đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không hàn gắn được. Cho nên, yêu cầu ly hôn anh Đỗ Văn H.

Về con chung: chị và anh Đỗ Văn H có 02 người con đã trưởng thành là Đỗ Lương Mỹ D, sinh ngày 01/01/1996 và Đỗ Lương Trinh V, sinh ngày 01/02/1998. Ly hôn, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản: Chị và anh H có tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số: 1101, tờ bản đồ số: 12, diện tích 153 m² (lô số 24), loại đất ở, tại A, xã M, huyện P giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp số: CH07072 ngày 10/9/2015 của UBND huyện P. Tiền mua thửa đất này là vợ chồng bán một thửa đất ở C cho ông Trần Công Đ được 105.000.000 đồng. Mượn của vợ chồng Võ Tấn C1, bà Đỗ Thị H3 15 chỉ vàng 24 k(giá vàng tại thời điểm năm 2015 là 3.300.000 đồng/1 chỉ), số nợ này anh H đã lấy tài sản riêng trả xong; mượn của vợ chồng ông Đỗ Đình H2 và bà Nguyễn Thị Kim C 06 chỉ vàng 24k, vợ chồng thêm một ít tiền nữa mua thửa đất số 1101 của vợ chồng ông Trần Vĩnh L và bà Nguyễn Thị Mỹ C2 nêu trên với giá là 185.000.000 đồng. Cho nên, nay còn nợ vợ chồng ông Đỗ Đình H2 và bà Nguyễn Thị C là 06 chỉ vàng y 24k. Ly hôn, yêu cầu được nhận quyền sử dụng thửa đất số 1101 trên (chưa xây nhà), trả hết các khoản nợ chung của vợ chồng, thanh toán lại cho anh H ½ giá trị quyền sử dụng đất sau khi trả hết nợ chung, theo giá của Hội đồng định giá tài sản.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/02/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Đỗ Văn H trình bày:

Anh và chị Lương Thị K được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 1995, chung sống như vợ chồng đến nay không đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nên từ đó phần ai nấy sống. Nay, chị K yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu chị K.

Về con chung: Anh và chị K có 02 người con như chị K trình bày là đúng. Các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về Tài sản: Anh và chị K có tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số: 1101, tờ bản đồ số: 12, diện tích 153 m² (lô số 24) tại A, xã M theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp số: CH07072 ngày 10/9/2015 của UBND huyện P. Thống nhất giá trị quyền sử dụng thửa đất trên theo giá thị trường 1.100.000.000 đồng của Hội đồng định giá tài sản.

Nợ chung, gồm:

- Nợ chung đã trả:

3

  • +Vợ chồng ông Lê Quang S1, bà Đỗ Thị H4 100.000.000 đồng.
  • +Vợ chồng ông Võ Tấn C1 và bà Đỗ Thị H3 15 chỉ vàng y.
  • +Ngân hàng TMCP K1 – Chi nhánh B1 150.000.000 đồng, tiền lãi từ 2015 đến 2021.

Các khoản nợ này đã trả xong bằng tài sản riêng của anh.

- Nợ chung chưa trả:

  • +Nợ vợ chồng ông Đỗ Đình H2 và bà Nguyễn Thị C; ở C, M 16 chỉ vàng y.
  • + Nợ anh Nguyễn Thanh S 20.000.000 đồng tiền đổ đất nâng nền mặt bằng thửa đất trên.

Ly hôn, anh yêu cầu được nhận quyền sử dụng thửa đất, các khoản nợ giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số:155/2023/HNGĐ-ST ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 16, Điều 53, Điều 59 của luật hôn nhân và gia đình năm 2015;

Căn cứ điểm a, b khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 236/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.

Tuyên Xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lương Thị K và anh Đỗ Văn H.
  2. Về tài sản chung: Giao cho chị Lương Thị K được trọn quyền sở hữu và sử dụng thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 02, diện tích 153 m² đất ở tại nông thôn, theo giấy chứng nhận số: CH07072 ngày 10.9.2015 của Ủy ban nhân dân huyện P, có giá trị là 1.100.000.000 đồng (Một tỉ một trăm triệu đồng).

- Buộc chị Lương Thị K có trách nhiệm trả các khoản nợ gồm:

  • + Trả cho anh Nguyễn Thanh S 20.000.000 đồng(Hai mươi triệu đồng).
  • + Trả cho vợ chồng ông Đỗ Đình H2, bà Nguyễn Thị Kim C 06 (sáu) chỉ vàng 24 K.
  • + Trả cho anh Đỗ Văn H 15(Mười lăm) chỉ vàng 24 K.

- Buộc anh Đỗ Văn H trả cho vợ chồng ông Đỗ Đình H2, bà Nguyễn Thị Kim C 10 (Mười) chỉ vàng 24 K.

- Chị Lương Thị K phải thối lại ½ giá trị tài sản cho anh Đỗ Văn H với số tiền là 481.200.000 đồng (Bốn trăm tám mươi mốt triệu hai trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/5/2023, bị đơn anh Đỗ Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 155/2023/HNGĐ-ST ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ. Lý do: yêu cầu của nguyên đơn là không có căn cứ, Tòa sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ.

4

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn anh Đỗ Văn H thay đổi nội dung kháng cáo, chỉ kháng cáo bản án sơ thẩm về cách chia tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ trả nợ chung, cụ thể:

Theo anh H:

  • - Năm 2015 anh đứng tên vay Ngân hàng K1- Chi nhánh B1 150.000.000 đồng. Khi vay, có thế chấp tài sản chung là thửa đất nêu trên; mục đích vay là để đầu tư mở quán chè ở thành phố D, tỉnh Bình Dương, trong đó: phần thuê đất xây dựng 120.000.000 đồng (có hợp đồng thuê đất), mua sắm dụng cụ mua bán là 30.000.000 đồng chị K trực tiếp đứng bán chè nên biết. Năm 2016, vợ chồng mâu thuẫn chị K bỏ đi, nên anh tiếp tục đứng tên đáo hạn Ngân hàng nhiều lần đến năm 2021 trả xong gốc và lãi tổng cộng là 248.000.000 đồng (Trong đó: gốc 150.000.000 đồng, tiền lãi là 98.000.000 đồng). Cho nên, đây là nợ chung, anh đã trả bằng tài sản riêng của anh. Ngoài ra, anh còn trả bằng tài sản riêng cho vợ chồng ông Võ Tấn C1 và bà Đỗ Thị H3 15 chỉ vàng y 24k (mượn mua đất năm 2015).
  • - Nợ chung của anh và chị K chưa trả là: Nợ vợ chồng ông Đỗ Đình H2, bà Nguyễn Thị Kim C 16 chỉ vàng 24k; Nợ tiền thuê anh Nguyễn Thanh S đổ đất nâng nền bằng thửa đất trên là 20.000.000 đồng. Tổng cộng 16 chỉ vàng 24k và 20.000.000 đồng.
  • - Còn khoản trả nợ cho vợ chồng ông Lê Quang S1, bà Đỗ Thị H4 100.000.000 đồng đã khai cấp sơ thẩm là trả bằng tài sản riêng của anh, nay xác định lại là trả bằng tài sản chung của anh và chị K nên không yêu cầu.

Nay anh có nguyện vọng xây nhà, sau này để lại tài sản cho các con, nên kháng cáo yêu cầu nhận quyền sử dụng thửa đất số: 1101, tờ bản đồ số: 12, diện tích 153 m², tại A, xã M; anh nhận trả hết nợ chung (tính cả phần đã trả) tổng cộng 268.000.000 đồng và 31 chỉ vàng 24k, thanh toán lại cho chị K ½ giá trị quyền sử dụng thửa đất còn lại sau khi trả hết nợ chung (theo giá vàng 6.000.000 đồng/chỉ) là 323.000.000 đồng (1.100.000.000 đồng – 454.000.000 đồng)/2.

Nguyên đơn chị Lương Thị K trình bày:

Về nợ chung:

  • - Năm 2015 có mượn vợ chồng ông Võ Tấn C1 và bà Đỗ Thị H5 chỉ vàng y 24k để mua đất và anh H đã trả bằng tài sản riêng như anh H trình bày là đúng.
  • - Ngoài ra, chị và anh H còn mượn của ông Đỗ Đình H2 và bà Nguyễn Thị C (cha mẹ anh H) 6 chỉ vàng y để mua thửa đất trên, khi mượn không viết giấy mượn. Còn anh H và cha mẹ anh H khai mượn 16 chỉ là anh H có mượn thêm hay không, mượn lúc nào, mượn để làm gì chị không biết. Cho nên, thừa nhận nợ chung là 6 chỉ; còn lại 10 chỉ là nợ riêng của anh H.
  • - Còn khoản nợ anh H khai vay trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP K1 - Chi nhánh B2 năm 2015 đến năm 2021 là 248.000.000 đồng là anh H vay trả lúc nào, vay làm gì chị không biết. Thừa nhận, thời gian còn sống chung ở thành phố D, tỉnh Bình Dương (trước tháng 7/2016) có thuê đất, mở bán chè, nhưng tiền thuê đất tháng nào trả tháng nấy bằng tiền mua bán chung của vợ chồng, không đầu tư xây dựng, mua sắm lớn như anh H đã khai. Cho nên đây là nợ riêng của anh H.

5

  • - Về khoản tiền 20.000.000 đồng nợ anh S: Chị không thuê anh S đổ đất, nâng nền bằng thửa đất, nhưng thừa nhận khi mua, thửa đất có mặt nền thấp hơn so với đường đi. Thực trạng hiện nay mặt nền thửa đất cao bằng đường đi là do chủ đất liền kề mượn đồ đất để kinh doanh mua bán đất cát. Cho nên, đây là nợ riêng của anh H.

Hiện nay, chị đang ở nhà thuê, cho nên yêu cần nhận quyền sử dụng thửa đất số 1101 nêu trên, trả hết nợ chung tổng cộng: 21 chỉ vàng 24k cụ thể, trả cho ông H2 bà C 6 chỉ vàng y 24k và thanh toán lại cho anh H 15 chỉ vàng 24k mà anh H đã trả bằng tài sản riêng cho ông C1 bà H3, thanh toán lại cho anh H ½ giá trị quyền sử dụng đất (giá vàng 6.000.000 đồng/chỉ) sau khi trả hết nợ chung là 487.000.000 đồng (1.100.000.000 đồng – 126.000.000 đồng)/2

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Đỗ Đình H2 và bà Nguyễn Thị C trình bày: Vào tháng 8/2015 ông bà có cho vợ chồng anh H, chị K mượn 16 chỉ vàng y để mua đất, là con dâu trong nhà nên không viết giấy mượn. Nay vợ chồng ly hôn nên yêu cầu anh H chị K phải trả cho ông bà 16 chỉ vàng y.

Anh Nguyễn Thanh S trình bày:

Anh có mua 3 thửa đất sát liền kề với thửa đất số 1101 của anh H chị K, nguyên là đất ruộng nên mặt nền thấp so hơn với mặt đường khoảng 1m đến 1,2m. Cho nên, khoảng tháng 10/2015 trong khi đổ đất nâng nền các lô đất của anh, qua điện thoại anh H chị K thuê anh đổ đất nâng nền mặt bằng thửa đất số 1101, với số tiền 20.000.000 đồng, anh đã thực hiện xong, đến nay anh H chị K chưa trả tiền. Nay yêu cầu anh H chị K trả cho anh 20.000.000 đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:

Năm 2015 đến năm 2021 anh H vay Ngân hàng K1- Chi nhánh B1 số tiền 150.000.000 đồng, mục đích vay là để thuê đất đầu tư mở quán chè ở thành phố D, tỉnh Bình Dương, chị K trực tiếp đứng bán chè bên biết. Anh H đã trả gốc và lãi là 248.000.000 đồng, nên đây là nợ chung, anh H đã trả bằng tài sản riêng.

Ngoài ra, anh H đã trả nợ chung bằng tài sản riêng cho vợ chồng ông Võ Tấn C1 và bà Đỗ Thị H3 15 chỉ vàng y 24k, chị H đã thừa nhận.

Ông Đỗ Đình H2, bà Nguyễn Thị Kim C cho anh H chị K mượn 16 chỉ vàng 24k để mua đất mà không ghi giấy mượn là do tin tưởng con dâu trong nhà. Việc chị K không thừa nhận thuê anh S đổ đất nâng nền, nhưng anh H thừa nhận, hiện trạng đã đổ đất nâng nền mặt bằng, làm tăng giá trị tài sản chung, hiện nay còn nợ anh S 20.000.000 đồng. Cho nên, anh H chị K còn nợ ông H2 bà C 16 chỉ vàng 24k và nợ anh S 20.000.000 đồng.

Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho anh H quyền sử dụng thửa đất số 1101, anh, anh H có nghĩa vụ thanh toán lại cho chị K ½ giá trị quyền sử dụng đất. Chị K thanh toán lại cho anh H ½ số tiền nợ gốc và lãi mà anh H đã trả cho Ngân hàng K1- Chi nhánh B1; A, chị K mỗi người trả ½ số nợ chung.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đề nghị HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo, giao cho anh

6

Đỗ Văn H quyền sử dụng thửa đất số: 1101, tờ bản đồ số: 12, tại A, xã M, anh H có nghĩa vụ thanh toán lại cho chị Lương Thị K ½ giá trị quyền sử dụng đất.

Chị Lương Thị K có nghĩa vụ trả cho cho vợ chồng ông Đỗ Đình H2 và bà Nguyễn Thị C 3 chỉ vàng y 24k, trả cho anh Nguyễn Thanh S 10.000.000 đồng; thanh toán lại cho anh Hiệp ½ số nợ chung mà anh H đã trả cho vợ chồng ông Võ Tấn C1 và bà Đỗ Thị H3 bằng tài sản riêng là 7,5 chỉ vàng y 24k.

Anh Đỗ Văn H có nghĩa vụ trả cho cho vợ chồng ông Đỗ Đình H2 và bà Nguyễn Thị C 13 chỉ vàng y 24k, trả cho anh Nguyễn Thanh S 10.000.000 đồng.

Kiến nghị: Trong đơn khởi kiện ngày 02/02/2021 nguyên đơn chị Lương Thị K yêu cầu giải quyết ly hôn giữa chị và anh H và yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 12 tại thôn A, xã M, huyện P. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ không yêu cầu chị K nộp tạm ứng án phí chia tài sản chung nhưng vẫn thụ lý giải quyết phần chia tài sản chung là vi phạm quy định tại Điều 146, 195 Bộ luật TTDS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Xét kháng cáo của anh Đỗ Văn H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị Lương Thị K và anh Đỗ Văn H thống nhất tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số:1101, tờ bản đồ số: 12, tại A, xã M theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào số cấp số: CH07072 ngày 10/9/2015 của UBND huyện P, giá trị quyền sử dụng đất là 1.100.000.000 đồng; thống nhất về số nợ chung anh H đã trả xong bằng tài sản riêng cho vợ chồng ông C1 bà H3 là 15 chỉ vàng y 24k. Nhưng không thống nhất về cách chia tài sản chung, về số nợ chung và nghĩa vụ trả nợ chung đối với: Số tiền vay gốc và lãi đã trả cho Ngân hàng K1- Chi nhánh B1 là 248.000.000 đồng; về số tiền 20.000.000 đồng thuê anh S đổ đất nâng nền thửa đất; về số lượng (chỉ) vàng còn nợ vợ chồng ông Đỗ Đình H2 và bà Nguyễn Thị Kim C.

Hội đồng xét xử thấy:

Theo sao kê giao dịch của Ngân hàng TMCP K1 – Chi nhánh B1 từ ngày 29/10/2015 đến ngày 21/12/2020 anh H vay 7 lần, trong đó 6 lần cùng số tiền là 150.000.000 đồng; 01 lần ngày 22/12/2020 vay 400.000.000 đồng, khi vay có thế chấp tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 1101, tờ bản đồ số: 12, tại A, xã M. Các khoản vay trên đã xong ngày 14/12/2021 và đã được giải chấp tài sản thế chấp (theo văn bản trả lời số: 666/CNBDI ngày 23/11/2023 của Ngân hàng TMCP K1 - Chi nhánh B1). Nay anh H chỉ xác định khoản vay năm 2015 số tiền 150.000.000 đồng, mục đích vay là để đầu tư mở quán chè ở thành phố D, tỉnh Bình Dương, trong đó: phần thuê đất, xây dựng là 120.000.000 đồng (có hợp đồng thuê đất), mua sắm dụng cụ mua bán là 30.000.000 đồng, chị K trực tiếp đứng bán chè nên biết, tiền gốc và lãi phát sinh anh đã trả đến năm 2021 là 248.000.000 đồng (Trong đó: gốc

7

150.000.000 đồng, tiền lãi là 98.000.000 đồng). Cho nên, đây là nợ chung, anh đã trả bằng tài sản riêng của anh. Chị K không thừa nhận, cho rằng: anh H vay và trả thời gian nào, vay làm gì chị không biết, chỉ thừa nhận, có thời gian (trước tháng 7/2016) khi còn sống chung ở thành phố D, tỉnh Bình Dương có thuê đất, mua bán chè, nhưng tiền thuê đất tháng nào trả tiền thuê tháng nấy bằng tiền mua bán chung của vợ chồng, không đầu tư xây dựng, mua sắm lớn như anh H đã khai. Anh H không cung cấp được hợp đồng thuê đất, hợp đồng xây dựng, các hóa đơn mua vật liệu để chứng minh là có đầu tư xây dựng mua bán; mặc khác anh H cũng thừa nhận từ năm 2016 anh và chị K phần ai nấy sống. Cho nên HĐXX không có căn cứ xác định là nợ chung mà anh H đã trả theo yêu cầu anh H.

Chị K cho rằng không thuê anh S đổ đất nâng nền thửa đất, nhưng thừa nhận khi mua, thửa đất có mặt nền thấp hơn so với đường đi. Thực trạng hiện nay mặt nền thửa đất cao bằng đường; còn anh H thừa nhận đã thuê anh S đổ đất như hiện nay là đã làm tăng giá trị tài sản chung, hiện còn nợ anh S 20.000.000 đồng. Cho nên, đây là nợ chung của anh H chị K.

Tại phiên tòa: Ông Đỗ Đình H2 và bà Nguyễn Thị C khai: khoảng tháng 8/2015 có cho vợ chồng K, H mượn 16 chỉ vàng 24k để mua đất làm nhà, là con dâu trong nhà nên tin tưởng, không viết giấy mượn. Nay yêu cầu chị K anh H trả 16 chỉ vàng 24k còn nợ. Anh H thừa nhận có mượn, còn nợ và đồng ý trả cho ông H2 bà C 16 chỉ vàng y 24k. Còn chị K chỉ thừa nhận chị và anh H có mượn của ông H2 bà C 6 chỉ vàng, còn lại 10 chỉ là anh H mượn lúc nào, mượn làm gì chị không biết; tại Giấy xác nhận nợ giữa ông H2 bà C với anh H (bút lục:18) cũng không có chữ ký chị K; anh H cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh là nợ chung 16 chỉ. Việc chị K thừa nhận có nợ chung 6 chỉ là tự nguyện, nên HĐXX ghi nhận. Còn lại chênh lệch 10 chỉ vàng 24k là nợ riêng, nên anh H có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Đỗ Đình H2 và bà Nguyễn Thị C.

Chị K là phụ nữ, hiện chưa có chỗ ở, cho nên Tòa án cấp sơ thẩm giao cho chị K quyền sở hữu và sử dụng thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 02, diện tích 153 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào số cấp số: CH07072 ngày 10/9/2015 của UBND huyện P; chị K trả hết các khoản nợ chung, thanh toán lại cho anh H ½ giá trị quyền sử dụng đất còn lại và trả lại cho anh H 6 chỉ vàng y 24k. Anh H có nghĩa vụ trả cho ông H2 bà C 10 chỉ vàng y 24k là có căn cứ, nên HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Đỗ Văn H.

Do Bản án sơ thẩm giao quyền sử dụng đất cho chị K, buộc chị K có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ chung thay cho phần nghĩa vụ trả nợ chung của anh H khi chưa có ý kiến của người có quyền. Chị K anh H có tranh chấp tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ về nợ chung nên phải chịu án phí tương ứng với giá trị tài sản được chia và nghĩa vụ về nợ chung. Cho nên, cần sửa về nghĩa vụ trả nợ chung, án phí dân sự của bản án sơ thẩm số 155/2023/HNGĐ-ST ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ cho phù hợp.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

8

[3] Về án phí:

[3.1] Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Chị Lương Thị K phải chịu 300.000 án phí hôn nhân gia đình.
  • - Chị Lương Thị K, anh Đỗ Văn H phải chịu án phí tương ứng với giá trị tài sản được chia và nghĩa vụ về tài sản chung.
  • - Trả lại cho ông Đỗ Đình H2 và anh Nguyễn Thanh S tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[3.2] Án phí dân sự phúc thẩm:

Kháng cáo không được chấp nhận nên anh Đỗ Văn H phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có phần phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 33, Điều 59, của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, e khoản 5 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Đỗ Văn H; sửa phần quyết định về nghĩa vụ trả nợ chung và án phí của bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 155/2023/HNGĐ-ST ngày 18/59/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

  1. Về tài sản chung: Giao cho chị Lương Thị K được trọn quyền sở hữu, sử dụng thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 02, diện tích 153 m², tại A, xã M theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp số: CH07072 ngày 10/9/2015 của UBND huyện P. Chị Lương Thị K có nghĩa vụ thanh toán lại cho anh Đỗ Văn H ½ giá trị quyền sử dụng thửa đất trên số tiền là 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng).
  2. Nghĩa vụ về nợ chung:

    - Buộc chị Lương Thị K có nghĩa vụ trả các khoản nợ gồm:

    • + Trả cho anh Nguyễn Thanh S 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
    • + Trả cho vợ chồng ông Đỗ Đình H2, bà Nguyễn Thị Kim C 03 (Ba) chỉ vàng 24K.
    • +Thanh toán lại cho anh Đỗ Văn H 7,5 chỉ (B chỉ rưỡi) vàng y 24k.

    - Buộc anh Đỗ Văn H có nghĩa vụ trả các khoản nợ gồm:

    • + Trả cho anh Nguyễn Thanh S 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
    • + Trả cho vợ chồng ông Đỗ Đình H2, bà Nguyễn Thị Kim C 13 (Mười ba) chỉ vàng 24k.

9

  1. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản là 5.000.000 đồng, chị Lương Thị K, anh Đỗ Văn H mỗi người phải chịu là 2.500.000 đồng. Chị K đã nộp tạm ứng là 5.000.000 đồng theo phiếu thu vào ngày 02/5/2021 của tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, nên anh Đỗ Văn H có nghĩa vụ thanh toán lại cho chị K 2.500.000 đồng.
  2. Về án phí:

    4.1 Án phí dân sự sơ thẩm:

    • - Chị Lương Thị K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị K đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002580 ngày 23/02/2021 của chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ (đã nộp xong) và 28.920.000 đồng án phí chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung.
    • - Anh Đỗ Văn H phải chịu 29.520.000 đồng án phí chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung.
    • - Trả lại cho ông Đỗ Đình H2 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008711 ngày 15/8/2022 của chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ.
    • - Trả lại cho anh Nguyễn Thanh S 500.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008712 ngày 15/8/2022 của chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ.

    4.2. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Anh Đỗ Văn H phải chịu 300.000 án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số thu tiền số 0009178 ngày 01/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (anh H đã nộp xong).

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phước;
  • - TAND huyện Tuy Phước;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hiệp

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2023/HNGĐ-PT ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp chia tài sản

  • Số bản án: 27/2023/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger