Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST

Ngày 16 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Dương Văn Công.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trịnh Thái Dương.
Bà Phạm Thị Mận.
- Thư ký phiên tòa:Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang:Ông Ngô Quang Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Nhà văn hóa tổ D1, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2023/TLST-HS ngày 27/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với.

Bị cáo: Sằm Hoàng H3; sinh năm 2001; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi đăng ký HKTT: Thôn P, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sằm Văn L, sinh năm 1978 và con bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1976; vợ con: Không; có 03 anh em bị cáo là con thứ nhất; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ: Ngày 17/4/2023; tạm giam: Ngày 26/4/2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Ấu Đức N - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn B; sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ D, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Hà Giang (Vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Nông Văn P, sinh năm 1993; anh Vũ Văn K, sinh năm 1997; anh Lâm Văn Q, sinh năm 2000; anh Nguyễn Việt C, sinh năm 1991; anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1992; chị Viêng Thị Thảo S, sinh năm 2005; chị Dằn Thị N1, sinh năm 2004; chị Nông Thị L1, sinh năm 2002; chị Triệu Thị L2, sinh ngày 25/6/2007 và người diện hợp pháp bà Đặng Thị M, sinh năm 1968 (Vắng mặt); anh Vi Văn H2, sinh năm 1990 (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 02 giờ 00 phút, ngày 17/4/2023, Công an huyện B kiểm tra hành chính quán hát Karaoke Huy D thuộc tổ D, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Hà Giang phát hiện tại phòng hát Vip1 có nhiều đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Sằm Hoàng H, sinh năm 2001; Nông Văn P, sinh năm 1993; Vũ Văn K, sinh năm 1997; Lâm Văn Q, sinh năm 2000; Triệu Thị L2, sinh năm 2007; Vi Văn H2, sinh năm 1990; Nguyễn Việt C, sinh năm 1991; Nguyễn Văn P1, sinh năm 1992; Viêng Thị Thảo S, sinh năm 2005; Dằn Thị N1, sinh năm 2004 và Nông Thị L1, sinh năm 2002.

Kiểm tra phòng hát bàn số 01 cửa chính phòng hát cách 02m phát hiện 01 đĩa sứ màu trắng bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy Ketamine, 01 giấy phép lái xe mang tên Nông Văn P, 01 ống hút cuộn từ tờ tiền mệnh giá 10.000đ; bàn số 03 cửa chính vào cách 06m có một loa thùng màu đen bên góc trái phát hiện 02 túi nilon bên trong có bám dính tinh thể màu trắng nghi là ma túy Ketamine, tại góc bên phải loa phát hiện 01 túi nilon bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy Ketamine.

Tổ công tác lập biên bản thu giữ niêm phong số đồ vật trên đồng thời đưa 11 đối tượng về trụ sở Cơ quan điều tra làm việc. Kiểm tra nước tiểu các đối tượng kết quả Sằm Hoàng H, Nông Văn P, Vũ Văn K, Lâm Văn Q, Triệu Thị L2, Viêng Thị Thảo S, Vi Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Việt Cường d tính chất ma túy; Nông Thị L1 và Dần Thị N1 âm tính.

Tại cơ quan điều tra Sằm Hoàng H khai nhận như sau:

Ngày 16/4/2023, H gọi điện cho Vi Văn H2 sang chơi và uống rượu H2 đồng ý, H2 rủ C và P1 (bạn của H2) đi cùng. Khi biết H2 và bạn sang chơi H nảy sinh ý đồ mua ma túy (ketamine và thuốc lắc) về sử dụng, khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày Hanh bắt xe khách sang thị trấn P, huyện B, tỉnh Cao Bằng gặp một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ hỏi mua ma túy, người đàn ông bán cho Hanh 03 gói ketamine và 04 viên thuốc lắc giá 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sau đó H bắt xe khách về nhà. Khoảng 18 giờ cùng ngày H2 đi ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS BKS 22A-167.46 đến thị trấn Y, huyện B gọi điện cho H, H gọi điện cho Nông Văn P xuống cùng H đi uống rượu tại quán V tổ D, thị trấn Y, huyện B Trong quá trình ăn cơm P gọi L2, S và K đến ăn cơm cùng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày ăn cơm xong Hanh mời đi hát tại quán Kl thuộc tổ D, thị trấn Y, huyện B Tại phòng hát V, H gọi thêm L1, N1 và Q vào hát cùng. Khi đang hát H ra ngoài phòng hát vào khu vực bếp quán hát lấy 01 đĩa sứ màu trắng, sau đó đến bàn lễ tân lấy 01 giấy phép lái xe mang tên Nông Văn P vào trong phòng hát, đồng thời lấy trong người ra 04 viên thuốc lắc chia ra cho mọi người sử dụng gồm: P1, P, Q, K, H2, S và H sử dụng thuốc lắc được khoảng 30 phút thì H tiếp tục lấy 01 bật lửa màu xanh, tại phòng hát để hơ nóng đĩa sứ, sau đó lấy 02 gói ma túy ketamin ra điều chế, H sử dụng bằng lái xe để làm mịn chất ma túy, chia ma túy thành nhiều phần, đồng thời sử dụng tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) cuốn lại, một đầu gắn đầu lọc điếu thuốc lá tạo thành ống hút. Hanh đưa lần lượt đưa cho mọi người sử dụng gồm: P1, P, S, Q, K, H2 còn H sử dụng sau cùng và tiếp tục chế thêm chất ma túy đưa cho C và L2 sử dụng. Khi đang sử dụng bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Ngày 18/4/2023 Cơ quan CSĐT cân tịnh chất bột màu trắng thu giữ tại hiện trường: 01 túi nilon màu trắng, viền miệng túi màu đỏ, kích thước (4 x 7,5)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng khối lượng 0,376g (không phẩy ba trăm bảy mươi sáu gam) ký hiệu A1.1. 01 (Một) túi nilon màu trắng, viền miệng túi màu xanh, kích thước (2,1 x 2,5)cm, bên trong chứa chất màu trắng khối lượng 0,696g (không phẩy sáu trăm chín sáu gam) ký hiệu A2.1.

Đối với 01 túi nilon màu trắng viền miệng túi màu xanh thứ nhất bám dính chất bột màu trắng ký hiệu A3.1; 01 túi nilon màu trắng viền miệng túi màu xanh thứ hai bám dính chất bột màu trắng ký hiệu A3.2; 01 túi nilon màu trắng viền miệng túi màu xanh thứ ba bị rách thành hai mảnh bên trong bám dính chất bột màu trắng, ký hiệu A3.3; các chất bám dính ít không xác định được khối lượng.

Kết luận giám định ngày 20/4/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu A1.1, A2.1 đều là ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng là 1,072g.

Ketamine nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu vật gửi giám định ký hiệu A3.1, A3.2, A3.3.

Xử lý vật chứng: 01 giấy phép lái xe mang tên Nông Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE6, màu bạc đã qua sử dụng. Trong quá trình điều tra xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, ngày 27/9/2023 Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 bật lửa ga không truy thu được, 04 viên thuốc lắc không truy thu được do các đối tượng đã sử dụng hết.

Vật chứng chưa xử lý:

01 phong bì màu trắng được niêm phong kín có dấu giáp lai của Phòng K2 Công an tỉnh, bên trong có chất ma túy hoàn trả sau giám định, mặt trước phòng bì có ghi “mẫu vật hoàn lại sau giám định, có ký hiệu A1.1, A2.1 vụ Sằm Hoàng H3, sinh năm 2001” do Phòng K2 trả lại sau khi lấy mẫu giám định. 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín, có dấu giáp lai của Phòng K2 Công an tỉnh, bên trong có vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ mặt trước phong bì ghi “02 túi nilon và 03 phong bì niêm phong cũ” do Phòng K2 trả lại sau khi lấy mẫu giám định. 01 ống hút được cuộn từ tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ và đầu lọc thuốc lá; 01 đĩa sứ màu trắng đã qua sử dụng.

Tại cáo trạng số 26/CT-VKSBM ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố Sằm H về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Sằm Hoàng H3 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Sằm Hoàng H3 từ 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 07 (Bẩy) năm 09 (Chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2023.

- Hình phạt bổ sung: Không; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng niêm phong có dấu giáp lai của Phòng K2 Công an tỉnh hoàn trả sau giám định ký hiệu A1.1, A2.1. 01 phong bì màu trắng niêm phong có dấu giáp lai của Phòng K2 Công an tỉnh, bên trong có vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ mặt trước ghi “02 túi nilon và 03 phong bì niêm phong cũ” do Phòng K2 trả lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 đầu lọc thuốc lá và 01 đĩa sứ màu trắng đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000₫.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12, Điều 14, khoản 6, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo được miễn toàn bộ tiền án phí.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Đồng tình với quan điểm Viện kiểm sát truy tố bị cáo Sằm Hoàng H3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa thành khẩn khai báo, nhận thức pháp luật hạn chế nên đã lôi kéo bạn sử dụng trái phép chất ma túy mà không lường trước được hậu quả xảy ra. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sằm Hoàng H3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Sằm Hoàng H3 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù; về án phí: áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Sằm Hoàng H3 nhất trí với quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý không có bổ sung.

Bị cáo Sằm Hoàng H3 nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa vắng mặt: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người làm chứng Triệu Thị L2, Nông Thị L1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Nông Văn P, Vũ Văn K, Lâm Văn Q, Nguyễn Việt C, Nguyễn Văn P1, Viêng Thị Thảo S, Dằn Thị N1 vắng mặt không có lý do. Xét thấy bị cáo; trợ giúp viên pháp lý; Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt; trong hồ sơ đã có lời khai, việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; trợ giúp viên pháp lý; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút đến 02 giờ ngày 17/4/2023 tại Phòng hát Vip 1 qua Karaoke H tổ D, thị trấn Y, huyện B, Sằm Hoàng H3 có hành vi cung cấp trái phép chất ma túy Ketamine cho các đối tượng Nông Văn P, Vũ Văn K, Lâm Văn Q, Vi Văn H2, Nguyễn Việt C, Nguyễn Văn P1, Viêng Thị Thảo S, sinh ngày 05/10/2005 và Triệu Thị L2 sinh ngày 25/6/2007 (trong đó L2 và S là người dưới 18 tuổi) sử dụng trái phép chất ma túy, khi đang sử dụng bị bắt quả tang. Kết luận giám định ngày 20/4/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu A1.1, A2.1 đều là ma túy, loại Ketamine, khối lượng là 1,072g. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • b) Đối với 02 người trở lên;
  • c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo: Thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy. Chất ma túy không chỉ đơn thuần là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm mất trật tự trị an địa phương, phá vỡ hạnh phúc gia đình và làm thiệt hại đến kinh tế và sức khỏe bản thân, suy giảm giống nòi con người Việt Nam. Bị cáo Sằm Hoàng H3 là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm tổ chức

cho 08 người sử dụng trái phép chất ma túy; trong đó có 02 người chưa đủ 18 tuổi. Do vậy, cần phải xử mức án tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sống vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tuổi đời còn trẻ hiểu biết pháp luật hạn chế. Xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Bị cáo Sằm Hoàng H3 đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án quy định tại Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Trong vụ án có hành vi đối tượng liên quan

[8.1] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Sằm Hoàng H3 không xác định được tên tuổi, nhân thân lai lịch của người này do đó không có cơ sở để xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.

[8.2] Đối với Sằm Hoàng H3 và các đối tượng Nông Văn P, Vũ Văn K, Lâm Văn Q, Triệu Thị L2, Viêng Thị Thảo S, Vi Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Việt C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ma túy. Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy theo quy định tại khoản 1, điều 23, nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và phòng, chống bạo lực gia đình, là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8.3] Đối với Nguyễn Văn H4 là người được giao trách nhiệm quản lý quán hát Karaoke Huy D. Quá trình điều tra xác định anh H4 không biết Sằm Hoàng H3 tổ chức sử dụng ma túy nên không có căn cứ để xử lý. Tuy nhiên do thiếu trách nhiệm trong quá trình quản lý dẫn đến cho bị cáo H3 sử dụng phòng hát để tổ chức sử dụng ma túy trái phép, Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi để cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực mình quản lý theo quy định tại điểm a, khoản 4, điều 23, nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và phòng, chống bạo lực gia đình,

là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8.4] Đối với Nông Thị L1 và Dần Thị N1 tham gia hát karaoke cùng nhưng không sử dụng ma túy và không biết H3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có cơ sở để xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.

[8.5] Đối với 02 gói ma túy Ketamine khối lượng 1,072g (Một phẩy không trăm bảy mươi hai gam) thu giữ của bị cáo H3, theo lời khai bị cáo H3 nếu không bị Cơ quan chức năng phát hiện thì tiếp tục pha chế để cho các đối tượng sử dụng hết. Hội đồng xét xử không xem xét hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[9] Về xử lý vật chứng:

[9.1] Đối với 01 phong bì màu trắng niêm phong, bên trong có chất ma túy do phòng K2 trả lại sau khi lấy mẫu giám định ký hiệu A1.1, A2.1 đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[9.2] Đối với 01 phong bì màu trắng niêm phong, bên trong có vỏ bao gói mặt trước ghi “02 túi nilon và 03 phong bì niêm phong cũ”; 01 đầu lọc thuốc lá không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 đĩa sứ màu trắng của ông Nguyễn Văn B không có nhu cầu sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9.3] Đối với 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000₫ là công cụ thực hiện việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[9.4] Đối với 01 giấy phép lái xe Nông Văn P và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE6, màu bạc đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT xét thấy không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên được chấp nhận.

[11] Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

[12] Về án phí: Bị cáo Sằm Hoàng H3 là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử, xét cho bị cáo được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.

[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sằm Hoàng H3 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Sằm Hoàng H3 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2023.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, có dấu giáp lai của Phòng K2 Công an tỉnh, bên trong có chất ma túy sau giám định, mặt trước phòng bì có gi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1.1, A2.1 vụ Sằm Hoàng H3, sinh năm 2001”; 01 (Một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, có dấu giáp lai của Phòng K2 Công an tỉnh, bên trong có vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, mặt trước phong bì ghi “02 túi nilon và 03 phong bì niêm phong cũ” do Phòng K2 trả lại sau khi lấy mẫu giám định.

01 (Một) đĩa sứ màu trắng đã qua sử dụng; 01 (Một) đầu lọc thuốc lá.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (Một) tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12; Điều 14; khoản 6, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Sằm Hoàng H3 được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Mê;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; Trợ giúp viên pháp lý;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Dương Văn Công

- Lưu hồ sơ vụ án.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Sằm Hoàng H 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger