Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST

Ngày: 15 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trọng Thủy (Chủ tịch Hội đồng Mục vụ giáo họ Đồng Lào huyện Tuyên Hóa) và bà Bùi Thị Kim Nhung (Phó Bí thư Huyện đoàn Tuyên Hóa).

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Đức Hải, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2023/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 28/4/1990, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình.

Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn L (chết) và bà Hoàng Thị X (chết); chưa có vợ, con; tiền án: 01 tiền án (Năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07/02/2023, bị Công an xã S, huyện T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 18/6/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh ngày 12/7/2006.

Nơi cư trú: Thôn Q, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt. (Tính đến ngày xét xử 15/8/2023, chị T 17 tuổi 01 tháng 03 ngày).

- Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thùy T: Chị Phạm Thị L1, sinh năm 1984 (mẹ đẻ của Nguyễn Thị Thùy T).

Nơi cư trú: Thôn Q, xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 02/02/2023, Trần Văn P đến uống cà phê tại quán “Memory 2” thuộc tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T. Trong lúc đang ngồi uống cà phê, P phát hiện thấy 01 túi xách màu đen của chị Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 2006, ở thôn Q, xã L, huyện T (là nhân viên của quán cà phê “Memory 2) để ở trên két nước giải khát gần khu vực lễ tân, lúc này trong quán vắng khách, nên P đã nảy sinh ý định lấy trộm. Sau đó, P đi đến lấy túi xách mang vào nhà vệ sinh của quán, rồi mở túi xách ra lục tìm lấy tài sản bên trong, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A12, màu đen và 02 tờ tiền Ngân hàng N, mỗi tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng. P cất giấu tài sản lấy trộm được vào người, để lại túi xách trên trong nhà vệ sinh rồi quay lại tiếp tục ngồi uống cà phê, một lúc sau thì rời khỏi quán. Sau khi thực hiện hành vi, ngày 13/02/2023 Trần Văn P bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 04/02/2023, chị T làm đơn trình báo cơ quan Công an. Ngày 14/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đồng thời ra Quyết định truy nã đối với Trần Văn P về tội “Trộm cắp tài sản' theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 18/6/2023, P đã tự nguyện đến đầu thú tại Công an tỉnh Q.

Ngày 20/2/2023, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A12, màu đen, số IMEI 1: 353552687541170, số IMEI 2: 355147557541174, đã qua sử dụng có giá là 2.350.000 đồng.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ vật chứng vụ án, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A12; 01 USB màu đen, trên USB có ghi chữ Kingston. Ngày 27/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại chị Nguyễn Thị Thùy T 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A12 (Tất cả tài liệu, đồ vật, vật chứng có đặc điểm như Lệnh nhập kho vật chứng ngày 13/02/2023 và biên bản niêm phong đồ vật, tại liệu bị tạm giữ ngày 08/3/2023).

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra chị gái bị cáo Trần Văn PTrần Thị G đã bồi thường cho người bị hại số tiền 20.000 đồng, chị Nguyễn Thị Thùy T đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho P.

Bản Cáo trạng số 27/CT-VKSTH ngày 10/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa truy tố bị cáo Trần Văn P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật hình sự và Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 08 tháng đến 11 tháng tù; về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung “phạt tiền” quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo; đối với 01 USB là phương tiện điện tử chứa dữ liệu điện tử cần tiếp tục lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn; phần bồi thường dân sự các bên đã thỏa thuận xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người bị hại Nguyễn Thị Thùy T cũng như người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Thùy T vắng mắt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản xác định hiện trường vụ án, sơ đồ hiện trường vụ án, bản ảnh nhận dạng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/02/2023, tại quán cà phê “Memory 2 thuộc tiều khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, Trần Văn P lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản chị Nguyễn Thị Thùy T, đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt 20.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A12 có trị giá 2.350.000 đồng, tổng giá trị tài sản P chiếm đoạt là 2.370.000 đồng, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã thành niên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Trần Văn P về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã thực hiện trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ mục đích cá nhân nhưng không bằng sức lao động của chính mình, điều đó đã làm ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn P có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, sau khi phạm tội đã tác động người thân trong gia đình bồi thường thiệt hại đối với bị hại, được bị hại ghi nhận, xác nhận đã bồi thường xong nên trong quá trình điều tra có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tuy bị cáo Trần Văn P bỏ trốn sau khi thực hiện hành vi trộm cắp, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T quyết định truy nã nhưng ngày 18/6/2023, bị cáo Trần Văn P đã ra đầu thú tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q. Do đó, HĐXX qua thảo luận, đánh giá quyết định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.

[6] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Xét thấy bị cáo Trần văn P1 có nhân thân xấu, ngày 07/02/2023 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, ngày 28/4/2021 bị kết án 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nhưng bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Điều đó cho thấy bị cáo là người khó cải tạo, giáo dục, xem thường pháp luật. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là đúng mức, đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung cho cộng đồng. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích nêu trên.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động, nhờ chị gái Trần Thị G bồi thường số tiền 20.000 đồng cho bị hại Nguyễn Thị Thùy T, chị T đã nhận đủ số tiền và cam đoan chấm dứt phần dân sự, không có yêu cầu gì thêm về phần bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[9] Về xử lý tài liệu, vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ tại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại GALAXY A12, ngày 27/3/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại điện thoại trên cho chị T, chị T và người đại diện hợp pháp của chị T không có ý kiến hay yêu cầu gì nên HDXX không xem xét. Đối với 01 USB, đây là phương tiện điện tử lưu trữ dữ liệu điện tử, cần tiếp tục lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn theo hồ sơ vụ án.

[10] Về án phí: Bị cáo Trần Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 107, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt Trần Văn P 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/6/2023.

    Quyết định tạm giam bị cáo Trần Văn P 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/8/2023 để đảm bảo thi hành án (có Quyết định tạm giam riêng).

  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  4. Trách nhiệm dân sự: Miễn xét.
  5. Xử lý vật chứng, phương tiện điện tử: Tiếp tục lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn theo hồ sơ vụ án 01 USB, trên USB có ghi chữ Kingston.

    (USB có đặc điểm như biên bản niêm phong đồ vật, tại liệu bị tạm giữ ngày 08/3/2023).

  6. Án phí: Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/8/2023; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Q.Bình;
  • - VKSND tỉnh Q.Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Q.Bình;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu VP; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự: trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 27/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trân Văn Ph - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger