Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH HƯNG

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HS-ST

Ngày 06 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Lạc

Ông Bùi Đức Hảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Châu Văn H, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1993 tại T, Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: ấp X, xã V, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Châu Văn B, sinh năm 1961 và bà Trần Thị Lệ T, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ; Tiền án: Ngày 25/6/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An tuyên phạt 09 tháng tù về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” tại bản án số 103/2015/HSPT, đã chấp hành xong ngày 24/9/2015; Tiền sự: Ngày 04/01/2023 bị Trưởng Công an xã V, huyện V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Về nhân thân: Ngày 20/6/2023 bị Trưởng Công an xã V, huyện V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 12/9/2023 bị Trưởng Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.750.000 đồng vì có hành vi trộm cắp tài sản của người khác (nhiều lần) với giá trị chưa đến 2.000.000 đồng; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/6/2023 đến ngày 22/6/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Phan Văn L, sinh ngày 20 tháng 10 năm 2001 tại V, Long An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn R, sinh năm 1953 và bà Châu Thị T1, sinh năm 1958; bị cáo chung sống với bà Mai Thị Thu T2 nhưng không có đăng ký kết hôn và có 01 người con sinh năm 2023; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 20/6/2023 bị Trưởng Công an xã V, huyện V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 12/9/2023 bị Trưởng C huyện V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.750.000 đồng vì có hành vi trộm cắp tài sản của người khác (nhiều lần) với giá trị chưa đến 2.000.000 đồng; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/6/2023 đến ngày 22/6/2023 chuyển tạm giam, đến ngày 03/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp bảo lĩnh, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Lý Văn N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990 tại V, Long An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn L1, sinh năm 1967 và bà Võ Thị G, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 20/6/2023 bị Trưởng Công an xã V, huyện V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/6/2023 đến ngày 22/6/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại.

  1. Ông Nguyễn Trường L2, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An ( có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đoàn Tấn C1, sinh năm 1964 (vắng mặt).
  2. Ông Võ Văn P, sinh năm 1975 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Ông Tô Văn C2, sinh năm 1968 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Long An

  1. Ông Nguyễn Vũ A, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt).
  2. Ông Võ Thanh H1, sinh năm 1966 (vắng mặt).
  3. Ông Châu Văn B, sinh năm 1961 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp X, xã V, huyện V, tỉnh Long An.

  1. Lê Thị Thu D, sinh năm 1998. Địa chỉ: số D, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).
  2. Bà Lý Thị H2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An (vắng mặt).

· Người làm chứng:

  • Ông Lê Thanh T4, sinh năm 1982 (vắng mặt).
  • Ông Nguyễn Thanh T5, sinh năm 1982 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Cáo trạng số 29/CT-VKSVH ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố các bị cáo Châu Văn H, Lý Văn N, Phan Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, với hành vi được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 15/6/2023, bị cáo H rủ các bị cáo N và L cùng nhau đi trộm cắp tài sản, cả ba đồng ý. Bị cáo H chạy xe mô tô 66P1-83178, bị cáo L chở bị cáo N trên xe mô tô 66N3-4018 đi tìm tài sản để lấy trộm. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày cả ba đi đến ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An nhìn thấy nhà của ông L2 đi vắng, cửa nhà khóa. Bên hiên nhà ông L2 có 01 máy hàn cơ, màu xanh, bằng kim loại, cân nặng 86 kg và 01 dây điện màu đen, dài 17m, cả ba thống nhất lấy trộm mang đi bán. Bị cáo H lấy dây điện màu đen cuộn lại, các bị cáo N và L khuâng máy hàn để lên xe mô tô bị cáo H để chở đi bán, còn bị cáo L chở bị cáo N chạy theo sau. Cả ba bị cáo cùng nhau đến nơi mua phế liệu ve chai của ông C1 tại ấp A, xã V, huyện V để bán thì bị Công an xã V phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Các tài sản trên được định giá là 2.950.000 đồng (máy hàn có giá là 2.100.000 đồng; dây điện có giá là 850.000 đồng).

Qua điều tra, các bị cáo L, N còn khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khác như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 13/6/2023 bị cáo L chở bị cáo N bằng xe mô tô của bị cáo N từ nhà đến xã V, trên đường đi, bị cáo L rủ bị cáo N trộm cắp tài sản để bán kiếm tiền tiêu xài, bị cáo N nói mệt nên không đi và đưa xe cho bị cáo L đi trộm cắp, còn N nằm nghĩ tại tiệm thu mua phế liệu của ông Đoàn Văn C3. Bị cáo L chạy xe mô tô đến nhà của ông T3 ngụ ấp T, xã T, mọi người trong nhà ông T3 đã ngủ say, bị cáo L vào lấy trộm 01 cây kim loại dài 2,21m, cân nặng 79 kg để bên hiên nhà, đưa lên yên xe mô tô chạy đến tiệm thu mua phế liệu của ông C3, bị cáo N phụ khuâng (khiêng) cây kim loại xuống và gọi ông C3 thức dậy bán được 530.000 đồng, bị cáo L tiêu xài cá nhân hết, tài sản trộm cắp được định giá là 3.200.000 đồng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L và N đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần ngày 15/6/2023 và ngày 13/6/2023, mỗi lần trộm cắp có giá trị trên 2.000.000 đồng nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên.

Bị cáo H có tiền án về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thi hành xong phần trách nhiệm dân sự, bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại Điều 53 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo L và N tự nguyện khai báo hành vi phạm tội trước đó nên được áp dụng tình tiết tự thú.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng bổ sung cáo trạng: Bị cáo L bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh từ ngày 03/8/2023, bị cáo H có 01 tiền sự bị xử phạt hành chính ngày 04/01/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Châu Văn H, Lý Văn N, Phan Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Châu Văn H từ 12 tháng đến 21 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 16 tháng 6 năm 2023.

Áp dụng Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 53, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn L từ 12 tháng đến 21 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 6 năm 2023 đến ngày 31 tháng 7 năm 2023.

Áp dụng Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 53, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Văn N từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 16 tháng 6 năm 2023.

Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Giao trả xe mô tô biển số 66N3-4018 số máy VMSACBH01476, số khung RLGSC10KH9H014476 cho bà H2; đối với xe mô tô biển số 66P1-83178, số máy MSACBH028403, số khung 10KHAH028430 có nguồn gốc không rõ ràng nên đề nghị giao cho cơ quan công an huyện tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau khi có kết quả.

Phần dân sự: Bị hại anh Nguyễn Trường L2 và anh Nguyễn Văn T3 đã nhận đủ tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm. Ông Nguyễn Vũ A, ông Võ Văn P; ông Tô Văn C2 không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét; ông Võ Thanh H1 yêu cầu các bị cáo L, H cùng bồi thường 400.000 đồng, các bị cáo H và L đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với các hành vi trộm cắp mà bị cáo L và H thực hiện liên tục trong ngày 01/6/2023 và ngày 02/6/2023, như sau: Khoảng 12 giờ, tại nhà ông Nguyễn Vũ A thuộc ấp T, xã T lấy 03 khung cửa sổ bằng kim loại mang đến tiệm thu mua phế liệu của anh Lê Thanh T4 ngụ Ấp A, xã V được 120.000 đồng, được định giá 173.000 đồng; Khoảng 22 giờ, tại nhà ông Võ Văn P ngụ Ấp A, xã V, lấy trộm 02 cái bánh lồng sắt mỗi cái có đường kính 90cm, cao 90cm, ngang 30cm, mang ra tiệm thu mua phế liệu của ông C3 bán được 250.000 đồng, được định giá 867.000 đồng; Khoảng 20 giờ ngày 02/6/2023, lấy trộm 01 máy dầu D6 hiệu CHANGCHAI của anh Tô Văn C2 đang bơm nước ruộng tại Ấp A, xã V, mang ra tiệm thu mua phế liệu của ông C3 bán được 550.000 đồng, được định giá 900.000 đồng. Đến ngày 10/6/2023, khoảng 12 giờ, các bị cáo L và H lấy trộm 01 can nhựa chứa dầu diesel khoảng 27 lít của ông Võ Thanh H1 đang để cập máy bơm nước tại ấp X, xã V, mang đến bán cho anh Nguyễn Thanh T5 ngụ Ấp A, xã V được 300.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết, 27 lít dầu được định giá là 492.000 đồng. Các hành vi này không đủ căn cứ cấu thành tội trộm cắp tài sản nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

(Kết quả định giá nêu trên được thể hiện trong các Bản kết luận định giá tài sản số: 71/KL-HĐĐG ngày 21/6/2023; số 94/KL-HĐĐG ngày 28/8/2023 và số 123/KL-HĐĐG ngày 02/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện V).

- Ý kiến của các bị cáo: Thống nhất hành vi phạm tội như Viện kiểm sát đã truy tố trong Cáo trạng là đúng tội, những người mua tài sản của bị cáo trộm cắp được không biết các tài sản đó do trộm cắp mà có và cũng không có hứa hẹn trước với các bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố và đến khi xét xử bị cáo đều tự nguyện khai báo, không bị ép cung, nhục hình. Ngoài ra, các bị cáo còn khai cùng nhau hùn tiền mua ma túy sử dụng vào ngày 15/6/2023, sử dụng tại nhà bị cáo H, dụng cụ sử dụng do người tên Nguyễn Văn T6 cư ngụ tại ấp X, xã V, huyện V, tỉnh Long An cung cấp.

- Ý kiến của các bị hại:

Ông T3 có đơn xin xét xử vắng mặt, không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự, về trách nhiệm hình sự đề nghị xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Ông L2 trình bày trong biên bản ghi lời khai: Ông không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự, về trách nhiệm hình sự đề nghị xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Các ông Nguyễn Vũ A, ông Võ Văn P, Tô Văn C2, ông Võ Thanh H1 trình bày: các ông có bị mất tài sản như đã nêu trong cáo trạng và lời trình bày của các bị cáo; nay các ông yêu cầu bị cáo L và H liên đới bồi thường theo giá trị bằng tiền như sau: Ông A yêu cầu 300.000 đồng, ông C2 yêu cầu 900.000 đồng; ông H1 yêu cầu 400.000 đồng; riêng ông P không yêu cầu bồi thường.

Ông C3 trình bày trong biên bản ghi lời khai: Ông có mua các tài sản do các bị cáo H, N, L bán như các bị cáo trình bày và cáo trạng đã nêu; ông không biết các tài sản mà các bị cáo đã mua là do phạm tội mà có, ông cũng không có hứa hẹn gì với các bị cáo. Các tài sản trên thì hiện nay cơ quan Điều tra công an đã thu giữ 01 máy hàn, 01 dây điện và cây kim loại dài 2,21m; đối với máy dầu D6, 02 bánh lồng sắt đã bán cho đại lý thu mua phế liệu. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án.

Ông Châu Văn B trình bày: Xe mô tô biển số 66P1-831.78 là của ông mua lại từ tiệm cầm đồ, không làm thủ tục sang tên, khi mua có giấy đăng ký sở hữu tên Lê Thị Thu D, xe này mua để làm phương tiện đi lại, bị cáo H tự lấy xe đi trộm cắp tài sản, ông không biết nên ông yêu cầu nhận lại xe.

Bà Lê Thị Thu D trình bày trong biên bản ghi lời khai: Xe mô tô biển số 66P1-831.78 là của bà đứng tên, trước đây bà có cho anh ruột là ông Lê Văn Tuấn A1 mượn để sử dụng, ông Tuấn A1 có báo lại là xe bị mất trộm nhưng bà không trình báo công an, nay bà yêu cầu được nhận lại xe.

Bà Lý Thị H2 trình bày trong biên bản ghi lời khai: Xe mô tô biển số 66N3-4018 là của bà mua lại của ông Nguyễn Văn L3, chưa làm thủ tục sang tên, do bà đi làm ăn xa nên có cho bị cáo N là cháu ruột mượn xe để đi làm, bà không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi trộm cắp nên bà xin nhận lại xe.

- Lời khai của người làm chứng trong biên bản ghi lời khai:

Ông Lê Thanh T4 khai: Ông làm nghề thu mua phế liệu, ông có mua 03 khung cửa sổ như các bị cáo trình bày nhưng ông không biết tài sản đó do trộm cắp mà có, các khung cửa này ông cũng đã bán lại cho chủ đại lý thu mua phế liệu, ông không còn biết thêm gì khác.

Ông Nguyễn Thanh T5 khai: Ông có mua 27 lít dầu do bị cáo L bán nhưng ông không biết tài sản đó do trộm cắp mà có, ông không còn biết thêm gì khác.

Thực hiện quyền được nói lời sau cùng các bị cáo nói:

Bị cáo H: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái nên xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo L: Bị cáo nhận thấy mình sai nên xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để được trở thành người có ích.

Bị cáo N: Bị cáo rất ăn năn hối hận nên xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội: Các bị cáo Phan Văn L, Châu Văn H và Lý Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ. Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, bị cáo H đi trên xe mô tô biển số 66P1-83178, bị cáo L chở bị cáo N trên xe mô tô 66N3-4018, khi đến tại nhà ông L2, thuộc ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An, các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 máy hàn màu xanh và 01 dây điện màu đen đem đi bán lấy tiền tiêu xài, các tài sản này được định giá là 2.950.000 đồng.

Ngoài ra, các bị cáo L và N còn tự thú về hành vi trộm cắp tài sản của ông T3 vào khoảng lúc 03 giờ 00 phút ngày 13/6/2023, tại ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An tài sản mà các bị cáo đã trộm cắp là 01 cây kim loại dài 2,21m, được định giá là 3.200.000 đồng.

Như vậy, hành vi của các bị cáo L, N, H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, trong đó bị cáo N và bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần là vào ngày 13/6/2023 và 15/6/2023, giá trị của tài sản đã trộm cắp mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng.

[3] Về năng lực trách nhiệm hình sự: Các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi, các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của các bị hại. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đây là một trong những quyền được Nhà nước ghi nhận và bảo vệ; Đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, hành vi của bị cáo thể hiện thái độ coi thường pháp luật, tạo dư luận xấu. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm của mình gây ra, cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và thể hiện tính răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà chỉ thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Cụ thể:

Đối với hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 15/6/2023, bị cáo H là người gợi ý rủ rê, các bị cáo còn lại thống nhất và cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp: bị cáo H lấy dây điện và cuộn lại để lên xe còn bị cáo N và bị cáo L khiêng máy hàn lên xe cho bị cáo H chở, cùng nhau đến nhà ông C3 để bán. Vì vậy, vai trò của các bị cáo N và L là ngang nhau, còn bị cáo H giữ vai trò chủ yếu hơn.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản xảy ra ngày 13/6/2023, bị cáo N biết rõ bị cáo L đi trộm cắp tài sản nhưng vẫn giúp sức bằng cách đưa xe cho bị cáo L đi trộm cắp và giúp khiêng tài sản xuống xe để bán cho ông C3, bị cáo L tiêu xài hết số tiền có được nên bị cáo L giữ vai trò chính, bị cáo N là người giúp sức.

[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được xem xét áp dụng đối với các bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo L và N đã tự thú hành vi trộm cắp tài sản ngày 13/6/2023, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được xem xét áp dụng đối với bị cáo H: Bị cáo bị xét xử về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” theo bản án số 103/2015/HSPT ngày 25/6/2015, đã chấp hành xong ngày 24/9/2015. Tuy nhiên, tính đến nay về phần trách nhiệm dân sự bị cáo vẫn chưa thực hiện xong nên căn cứ vào Điều 53, Điều 70 Bộ luật Hình sự và Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao tại phần I.7 thì bị cáo còn tiền án và thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo N và bị cáo L: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hai lần là vào ngày 13/6/2023, ngày 15/6/2023 và mỗi lần đều có giá trị tài sản trên 2.000.000 đồng, đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Các bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 20/6/2023, các bị cáo H, N, L bị xử phạt vi phạm hành chính vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 12/9/2023, bị cáo H và N bị xử phạt vi phạm hành chính do thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo H còn có 01 tiền sự là ngày 04/01/2023 bị xử phạt vi phạm hành chính vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử khẳng định Cáo trạng số 29/CT-VKSVH ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố các bị cáo Châu Văn H, Lý Văn N, Phan Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông T3 và ông L2 đã nhận lại tài sản bị mất, không có yêu cầu gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi trộm cắp 02 cái bánh lồng sắt của ông P, máy dầu D6 của ông C2, 03 khung cửa bằng kim loại của ông A được thực hiện liên tục trong các ngày 01/6/2023 và 02/6/2023 có tổng giá trị dưới 2.000.000 đồng; trộm cắp 27 lít dầu của ông H1 ngày 10/6/2023 có giá 492.000 đồng, không đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản và đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, các ông chưa được giải quyết về phần bồi thường dân sự, nay ông H1 yêu cầu được bồi thường giá trị tài sản bằng tiền và các bị cáo L, N thống nhất bồi thường nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu là phù hợp với quy định tại các điều 288, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo L và bị cáo H cùng liên đới bồi thường cho ông H1 số tiền 400.000 đồng, các ông P, ông A, ông C2 không có yêu cầu nên không xem xét.

[9] Về vật chứng của vụ án: Xe mô tô 66N3-4018 số máy VMSACBH01476, số khung RLGSC10KH9H014476 của bà H2 cho bị cáo N mượn sử dụng làm phương tiện đi làm thuê nhưng bị cáo sử dụng để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, sự việc này bà H2 hoàn toàn không biết nên cần giao trả xe cho bà H2 là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với xe mô tô biển số 66P1-83178, số máy MSACBH028403, số khung 10KHAH028430 có nguồn gốc không rõ ràng, bà D và ông B đều xin nhận lại xe nhưng kết quả xác minh thể hiện xe này đứng tên đăng ký chủ sở hữu là bà D, khi bà D cho ông Tuấn A1 mượn xe thì ông Tuấn A1 báo lại xe đã bị mất còn ông B thì mua lại của tiệm cầm đồ và người đem xe đi cầm cố chính là ông Tuấn A1 nên cần điều tra làm rõ. Vì vậy, giao trả xe mô tô biển số 66P1-83178 cho công an huyện V tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.

[10] Đối với hành vi của các bị cáo về việc cùng nhau hùn tiền mua ma túy về sử dụng đã bị Trưởng công an xã V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo H khai dụng cụ sử dụng ma túy do ông Nguyễn Văn T6 cư ngụ tại ấp X, xã V, huyện V cung cấp nên cơ quan điều tra công an huyện V cần điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[11] Đối với ông C3 là người đã mua các tài sản gồm 01 máy hàn cơ, màu xanh, bằng kim loại, cân nặng 86 kg; 01 dây điện màu đen, dài 17m; 01 cây kim loại dài 2,21m, cân nặng 79 kg nhưng ông C3 không biết đây là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có, đối với máy dầu D6 và 02 bánh lồng kim loại được xác định là hành vi vi phạm hành chính nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông C3.

[12] Về án phí: Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn giảm án phí nên các bị cáo phải chịu án phí nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật, cụ thể: các bị cáo H, L, N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm không có giá ngạch 200.000 đồng; các bị cáo L, N còn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ phải bồi thường.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Các bị cáo Châu Văn H, Phan Văn L và Lý Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 53, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Châu Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 16 tháng 6 năm 2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn L 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 6 năm 2023 đến ngày 03 tháng 8 năm 2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 16 tháng 6 năm 2023.

2. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam các bị cáo Châu Văn H và Lý Văn N để đảm bảo cho việc thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án (là ngày 06/11/2023).

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Giao trả cho bà Lý Thị H2 01 xe mô tô 66N3-4018 số máy VMSACBH01476, số khung RLGSC10KH9H014476.

Giao cho Công an huyện V 01 xe mô tô biển số 66P1-83178, số máy MSACBH028403, số khung 10KHAH028430 để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.

Các vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Hưng đang quản lý.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 288, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc các bị cáo: Phan Văn L, Châu Văn H cùng liên đới bồi thường cho ông Võ Thanh H1 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành án sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Buộc mỗi bị cáo Châu Văn H, Lý Văn N và Phan Văn L, mỗi bị báo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Buộc các bị cáo Châu Văn H và Phan Văn L cùng liên đới chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Châu Văn H, Lý Văn N và Phan Văn L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông C2, ông B, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông T3, ông L2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà D, ông P, ông C3, ông H1, bà H2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - VKSND, CCTHADS, Công an/H;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu: HS, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuân Liễu

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 27/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo rủ nha cùng đi trên 02 xe máy, chạy dọc các tuyến đường liên xã để tìm tài sản trộm cắp. Sau khi lấy được tài sản thì cùng đem đi bán và chia tiền tiêu xài cá nhân. Các bị cáo bị áp dụng hình phạt tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger