Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/HNGĐ-PT

Ngày: 04 – 12 – 2023

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tư

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Kiều Duyên

Ông Lê Nguyên Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Ni – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Hào – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2023/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 74/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/2023/QĐ-PT ngày 18 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1982; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Do có kháng cáo của: Anh Nguyễn Văn N – Là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Thị Đ trình bày: Vợ chồng kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/6/2006 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng ý kiến về những việc trong cuộc sống gia đình, hiện tại mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt hơn, thường xuyên cự cãi, mục đích hôn nhân không đạt, mặc dù chị đã cố tình vun đắp tình cảm nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh N chị yêu cầu được ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Văn D, sinh ngày 29/03/2004 đã trưởng thành và Nguyễn Văn C, sinh ngày 11/5/2006 đang sống chung với anh N. Khi ly hôn chị yêu cầu anh N tiếp tục nuôi cháu C, chị không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn Văn N trình bày: Về thời gian kết hôn và thời gian chung sống, con chung như nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày. Về mâu thuẫn vợ chồng anh xác định là có. Nguyên nhân mâu thuẫn gia đình là do tính anh hay ghen tuông nên có chửi vợ nhiều lần trong khoảng thời gian 03 năm nay. Do đó vợ anh bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 12/2022 đến nay. Về con chung, nếu Tòa án cho anh ly hôn thì anh thống nhất theo ý kiến của chị Đ. Về tài sản chung, nợ chung anh cũng không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 74/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Đ.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung Nguyễn Văn C, sinh ngày 11/5/2006 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con và chị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/7/2023 bị đơn Nguyễn Văn N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết như sau: Anh N không đồng ý ly hôn với chị Đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn Nguyễn Văn N trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Không đồng ý ly hôn với chị Đ.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn N; Giữ nguyên án sơ thẩm; Anh N phải chịu phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 24/7/2023 bị đơn Nguyễn Văn N kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định. Nên đơn kháng cáo của anh N được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của anh N không đồng ý ly hôn với chị Đ. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Đ trình bày, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh N có tính ghen tuông vô cớ nên thường xuyên chửi bới và dùng vũ lực với chị Đ, nên từ tháng 12/2022 chị Đ đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Anh N cũng thừa nhận do anh hay ghen tuông nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau nhưng do anh thương vợ, do đó anh không đồng ý ly hôn với chị Đ. Xét thấy, giữa chị Đ và anh N đã xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn, chị Đ cương quyết ly hôn với anh N. Hiện tại chị Đ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và xin Tòa xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết cho chị Đ được ly hôn với anh N là có căn cứ.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Văn D, sinh ngày 29/03/2004 đã trưởng thành, nên không xem xét giải quyết. Nguyễn Văn C, sinh ngày 11/5/2006 đang sống chung với anh N. Chị Đ đồng ý giao con chung cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng, anh N cũng đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con. Con chung Nguyễn Văn C có nguyện vọng sống với anh N. Do đó, tiếp tục giao con chung Nguyễn Văn C, sinh ngày 11/5/2006 cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng, chị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những căn cứ nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của anh N, giữ nguyên án sơ thẩm.

[3] Xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Anh N phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí hôn nhân sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Văn N.

Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 74/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung Nguyễn Văn C, sinh ngày 11/5/2006 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con và chị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở.
  3. Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn N phải chịu án phúc thẩm là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án hôn nhân và gia đình phúc thẩm đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0004295 ngày 24/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Anh Nguyễn Văn N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm.
  4. Quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí hôn nhân sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC: 01b;
  • - VKSNDTVL: 02b
  • - CATANDTVL: 01b;
  • - TAND.HTÔ: 01b;
  • - THADS.HTÔ: 02b;
  • - Đ/sự: 02b;
  • - Lưu: 06b

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2023/HNGĐ-PT ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 27/2023/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger