Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2023/DS - PT

Ngày 27 - 12 - 2023

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thủy;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Trưởng và ông Trần Công Đoàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2023/TLPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam bị kháng cáo và kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 29/2023/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1988; địa chỉ: Số nhà C, đường T, tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hải Q, sinh năm 1963; nơi cư trú: Số nhà B, ngõ I, đường L, tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, có mặt.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn N, sinh năm 1982 và chị Hoàng Thị M, sinh năm 1981; địa chỉ: Số nhà E, đường L, tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, có mặt anh N, vắng mặt chị M.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Hoàng Thị M: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Hà Nam; địa chỉ trụ sở: đường B, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; đại diện theo pháp luật: Ông Trương Quốc B; chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố P; đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung D; chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố P, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.

+ Ủy ban nhân dân phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; địa chỉ trụ sở: Tổ D, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Đắc T1; chức vụ: Chủ tịch UBND phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.

+ Phòng Công chứng số 1 tỉnh H; địa chỉ: Đường L, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; đại diện theo pháp luật: Ông Khổng Giang H; chức vụ: Trưởng phòng, vắng mặt.

+ Ông Khổng Giang H - Công chứng viên Phòng Công chứng số 1 tỉnh H; địa chỉ: Đường L, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1959; bà Lê Thị B1, sinh năm 1960; chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1984; ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1965; bà Lại Thị V, sinh năm 1966; chị Lại Thị S, sinh năm 1990; anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990; chị Trần Thị N1, sinh năm 1994; cùng địa chỉ: Tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, đều vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1982; chị Phạm Thị H2, sinh năm 1984; cùng địa chỉ: Tổ H, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, đều vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị C: Bà Nguyễn Thị Kim A - Luật sư Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H1, bà Lại Thị V, chị Lại Thị S, anh Nguyễn Văn T2, chị Trần Thị N1: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1988; địa chỉ: Số nhà C, đường T, tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, có mặt.

- Người kháng cáo: Anh Nguyễn Thành L là nguyên đơn; anh Đỗ Văn N là bị đơn trong vụ án.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và Bản án dân sự sơ thẩm cùng các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:

Ông Nguyễn Văn H1 và bà Lại Thị V (Bố đẻ anh Nguyễn Thành L) có thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14, diện tích 513m², gồm 360m² đất ở, 122m² đất vườn và 31m² đất ao, tại địa chỉ: Tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/11/2008. Nguồn gốc thửa đất do ông cha để lại cho ông H1, bà V.

Năm 2022, ông H1, bà V1 có mua thêm của chị C diện tích 173m² gồm: 67m² đất ở, 69m² đất vườn và 37m² đất ao, tại thửa đất 497 tờ bản đồ số 14, giá chuyển nhượng 670.000.000đ. Vị trí, kích thước và loại đất đã được thể hiện trong bản trích đo của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P; trong đó có 13m² đất vườn mà vợ chồng anh Nguyễn Thành L đang sử dụng. Sau đó, ông H1, bà V1 đã gộp phần đất mua thêm vào thửa số 3, tờ bản đồ số 14 của ông H1, bà V1; tổng diện tích đất của ông H1, bà V1 sử dụng là 686m², gồm: 427m² đất ở, 191m² đất vườn và 68m² đất ao. Đến ngày 10/3/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn H1 và bà Lại Thị V.

Ngày 06/4/2022, ông H1, bà V1 đã tặng cho anh Nguyễn Thành L toàn bộ thửa đất số 3 tờ bản đồ số 14; việc tặng cho được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nên anh L đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P xác nhận việc tặng cho vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn H1, bà Lại Thị V.

Khoảng năm 2021, vợ chồng anh N, chị M đã xây dựng một phần nhà trái phép trên phần diện tích đất của anh L, anh L đã làm đơn đề nghị chính quyền địa phương giải quyết nhưng hòa giải nhiều lần đều không có kết quả.

Quan điểm của anh Nguyễn Thành L xác định: Việc anh N mua đất ao của gia đình ông L1 như thế nào gia đình anh không biết. Vì diện tích đất đang có tranh chấp ông L1 đã bán cho anh L ngày 14/7/2013. Sau đó, ông L1 lại bán phần đất này cho anh N trong đó có 17m² đất ao anh đang sử dụng và 13m² đất vườn. Nay, anh L yêu cầu vợ chồng anh Đỗ Văn N, chị Hoàng Thị M phải tháo dỡ diện tích nhà đã xây dựng trái phép và trả lại diện tích đất 30m² đã lấn chiếm của anh L.

Quan điểm của các bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của chị Hoàng Thị M đều xác định:

Phần diện tích 30m² đất mà anh L kiện đòi vợ chồng anh N có nguồn gốc là của vợ chồng ông L1. Phần đất này gia đình ông L1 đã bán cho vợ chồng anh N vào ngày 08/10/2014 với giá 100.000.000đ. Việc mua bán có lập văn bản nhưng không thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và không thông báo với chính quyền địa phương; sau đó, vợ chồng anh N nhận đất, xây tường bao và xây công trình phụ trên phần đất đang tranh chấp từ thời điểm mua. Vợ chồng anh N sử dụng phần đất này ổn định từ năm 2014 đến năm 2022, không có tranh chấp và cũng không bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý. Tháng 02/2022, vợ chồng anh N đã phá công trình phụ xây từ năm 2014 để xây nhà mái bằng như hiện nay. Khi khởi công và xây dựng không xảy ra tranh chấp; đến khi hoàn thiện tầng 3, anh L có đơn kiện và xảy ra tranh chấp. Phần đất vợ chồng anh N mua của ông L1 tại thời điểm năm 2014 là đất ao của gia đình ông L1. Vị trí kích thước cụ thể đúng như hiện trạng, còn trên bản đồ thế nào vợ chồng anh N không biết.

Ngày 08/3/2021, vợ chồng ông L1 tặng cho toàn bộ thửa đất số 497, tờ bản đồ số 14 (Trong đó có cả phần đất đã bán cho vợ chồng anh N vào năm 2014) cho chị C.

Ngày 10/3/2022, chị C chuyển nhượng một phần thửa đất cho vợ chồng ông H1, bà V. Nay vợ chồng anh N xác định phần đất mà anh L đang kiện đòi là đất của vợ chồng anh N đã mua của gia đình ông L1 và sử dụng từ 2014 đến nay nên vợ chồng anh N bác bỏ yêu cầu khởi kiện của anh L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đỗ Văn N có yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh và gia đình ông Nguyễn Văn L1 và đề nghị hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H1, bà Lại Thị V cùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Thành L đối với 31,25m² vì cấp trùng với diện tích đất mà gia đình anh đã mua của ông L1 trước đó.

Quan điểm của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ủy ban nhân dân thành phố P đề nghị giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân phường L có quan điểm xác định hộ ông Nguyễn Văn L1 hiện đang sử dụng diện tích 543m² (Trong đó: Đất ở 200m², đất vườn 108m² và đất ao 235m2) tại thửa số 497 tờ bản đồ số 14 và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp diện tích 365m² đất (Gồm: đất ở 200m², đất vườn 108m² và đất ao 57m²). Ông L1 bị thu hồi 178m² đất ao.

Hộ ông Nguyễn Văn H1 tại thửa số 3 tờ bản đồ số 14, hiện trạng sử dụng là 792m² (gồm: 360m² đất ở, 122m² đất vườn và 310m² đất ao). Nhưng ông H1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp là 513m² đất (Gồm: 360m² đất ở, 122m² đất vườn và 31m² đất ao). Ông H1 bị thu hồi 279m² đất ao.

Quá trình sử dụng đất, thửa đất của ông H1 có sự biến động nên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 10/3/2022 cho vợ chồng ông H1, bà V thì phần diện tích đất hợp pháp vợ chồng ông H1 được sử dụng là 686m² đất (Gồm: 427m² đất ở, 191m² đất trồng cây hàng năm và 68m² đất nuôi trồng thủy sản).

Các giao dịch chuyển nhượng, mua bán đất viết tay giữa ông L1 với anh N, ông L1 với ông H1, ông L1 với anh L, đều không báo cáo Ủy ban nhân dân phường L nên chính quyền địa phương biết.

Qua kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 05/2023-ĐĐCL ngày 10/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P, đối chiếu với phần đất của anh L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp thể hiện: Vợ chồng anh N, chị M đang sử dụng 13m² đất vườn (BHK) hiện đã xây dựng một phần nhà ba tầng kiên cố, chưa hoàn thiện thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anh L; còn 17m² đất anh N, chị M đã xây dựng một phần nhà thuộc đất UB do UBND phường L quản lý. Nay, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ông Khổng Giang H, Trưởng phòng C tỉnh Hà Nam đồng thời là Công chứng viên xác định: Sau khi nhận được yêu cầu Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng (Bà Nguyễn Thị C); bên nhận chuyển nhượng (Ông Nguyễn Văn H1 và bà Lại Thị V), Phòng Công chứng đã tiến hành kiểm tra hồ sơ do các bên cung cấp và thấy rằng các hồ sơ do các bên cung cấp là đầy đủ (Bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị C, đo đạc chỉnh lý thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, căn cước công dân, sổ hộ khẩu của các bên).

Tại thời điểm công chứng ngày 04/3/2022, do bà Nguyễn Thị C là người khuyết tật (Khiếm thị) không đọc được nên theo quy định Phòng Công chứng đã mời 02 người là ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị N2 làm chứng cho việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng. Phòng Công chứng đã giải thích về nội dung hợp đồng; trong đó có ghi nhận về phần diện tích chuyển nhượng, giá chuyển nhượng và các điều khoản khác của hợp đồng cho các bên nghe. Ngoài ra, Phòng Công chứng có yêu cầu người làm chứng giải thích về nội dung hợp đồng cho bà Nguyễn Thị C nghe và hiểu rõ.

Sau khi giải thích cho các bên tham gia hợp đồng hiểu rõ nội dung của hợp đồng, Phòng Công chứng yêu cầu các bên ký, điểm chỉ vào hợp đồng trước sự có mặt của Công chứng viên và hai người làm chứng. Tại thời điểm ký vào hợp đồng chuyển nhượng, các bên tham gia ký kết Văn bản công chứng là hoàn toàn tự nguyện, không có bất kỳ sự lừa dối, ép buộc nào.

Về nội dung của hợp đồng hoàn toàn phù hợp với ý chí nguyện vọng của các bên tham gia giao dịch, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Sau khi thực hiện công chứng, Văn bản Công chứng đã được vào Sổ công chứng và lưu trữ tại Phòng C tỉnh Hà Nam theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Phòng C tỉnh Hà Nam và Công chứng viên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của ông Nguyễn Văn L1 và bà Lê Thị B1 đều xác định: Vợ chồng ông L1 có thửa đất số 497 tờ bản đồ số 14 diện tích 543m² nhưng chỉ được sử dụng riêng 365m² (Gồm 200m² đất ở, 108m² đất vườn và 57m² đất ao), còn lại 178m² đất ao do UBND phường L quản lý. Thửa đất này có nguồn gốc là của bố mẹ ông để lại và ngày 28/11/2008 UBND thành phố P đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông L1, bà B1.

Ngày 08/10/2014 gia đình ông có chuyển nhượng cho vợ chồng anh N, chị M diện tích 31,35m² đất ao (TSN) với giá 100.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng giữa hai bên có lập văn bản, có chữ ký của hai bên nhưng không thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và không thông báo với chính quyền địa phương. Sau khi gia đình ông nhận đủ tiền từ vợ chồng anh N thì gia đình ông đã bàn giao vị trí, mốc giới phần đất này cho vợ chồng anh N và vợ chồng anh N đã xây tường quây gọn phần đất này; đến năm 2021, vợ chồng anh N đã xây nhà ba tầng kiên cố trên phần diện tích đất này.

Ngày 28/3/2020 gia đình ông có bán cho gia đình anh T2 (Là em trai anh L) 96m² đất vườn còn lại với giá 400.000.000đ, việc mua bán có lập văn bản nhưng vì là chỗ anh em nên ông không đọc kỹ nội dung mà vẫn ký vào. Nay ông khẳng định phần đất gia đình ông bán cho vợ chồng anh N không liên quan và không trùng với phần đất mà gia đình ông đã bán cho anh T2, ông H1.

Khoảng tháng 02/2021 ông đã làm thủ tục tặng cho chị C toàn bộ phần diện tích còn lại của thửa đất 497 tờ bản đồ 14 là 455m², gồm đất sử dụng riêng là 277m² (171m² đất ở, 69m² đất vườn và 37m² đất ao), còn lại 178m² đất ao do UBND phường L quản lý. Sau khi ông tặng cho chị C thửa đất này thì ông không còn liên quan, không có quyền lợi gì đến thửa đất này nên sự việc sau này liên quan đến thửa đất này ông không rõ.

Quan điểm của chị Nguyễn Thị C xác định: Khoảng tháng 02 năm 2021, ông L1 và bà B1 (Bố mẹ đẻ chị) tặng cho chị C thửa đất số 497 tờ bản đồ số 14, việc tặng cho thông qua Phòng Công chứng và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên ngày 08/3/2021 chị C được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này.

Ngày 26/6/2021 chị C có chuyển nhượng cho vợ chồng ông H1, bà V tổng diện tích đất 80m², gồm 67m² đất ở và 13m² đất vườn, tại thửa 497 với giá 670.000.000đ, việc chuyển nhượng chỉ lập hợp đồng viết tay. Sau đó, khoảng 01 tháng thì chị C tiến hành bàn giao đất cho vợ chồng ông H1 và vợ chồng ông H1 đã xây nhà trên phần đất này. Ngày 04/3/2022 chị C và vợ chồng ông H1 đến Phòng C tỉnh Hà Nam để làm thủ tục tách phần đất đã bán ngày 26/6/2021. Tại Phòng Công chứng chị C có điểm chỉ vào nhiều giấy tờ nhưng không biết là giấy tờ gì và có nội dung như thế nào, điểm chỉ xong chị C đi về nên sự việc sau này thế nào chị không rõ. Nay chị xác định vị trí phần diện tích đất chị đã bán cho vợ chồng ông H1 không trùng với vị trí phần đất mà bố chị đã bán cho vợ chồng anh N từ trước đó.

Quan điểm của anh Nguyễn Văn D1 và chị Phạm Thị H2 xác định: Anh D2 là con trai của ông L1 và bà B1, chị H2 là vợ anh D2. Bố mẹ anh có thửa đất số 497, tờ bản đồ số 14, diện tích 543m² tại tổ F, phường L, thành phố P đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố mẹ anh. Đây là thửa đất của bố mẹ anh nên việc bố mẹ anh bán cho ai, diện tích đất bao nhiêu là quyền của bố mẹ anh. Các giấy tờ mua bán đất vợ chồng anh chỉ ký với tư cách người làm chứng chứ anh chị không có liên quan gì, nội dung cụ thể như thế nào anh chị không nắm rõ. Nay anh chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của ông Nguyễn Văn H1 và bà Lại Thị V xác nhận: Ông bà có thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14, diện tích 792m², trong đó sử dụng riêng là 513m², gồm 360 m² đất ở, 122m² đất vườn và 31m² đất ao, đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/11/2008. Sau đó, ông bà mua của chị C 173m² đất nên có tổng diện tích là 1143m², (Trong đó đất ở 427m², đất trồng cây hàng năm khác 191 m² và đất nuôi trồng thủy sản 68m²); đến ngày 10/3/2022, Nhà nước cấp Giấy chứng nhận cho ông bà. Ngày 06/4/2022 ông bà đã tặng cho anh L thửa đất này nên anh L có quyền sử dụng toàn bộ thửa đất này.

Quan điểm của anh Nguyễn Văn T2 (Em trai anh L) xác định: Ngày 28/3/2020, bố mẹ anh và anh có mua của gia đình ông L1 96m² đất với giá 432.000.000đ, anh có chữ ký trong hợp đồng vì bố mẹ anh không đủ tiền nên anh đã cho vay. Nay bố mẹ anh đã cho anh L toàn bộ thửa đất số 03 tờ bản đồ số 14 gồm cả phần đất vườn mà bố mẹ anh và anh đã mua nên anh xác định thửa đất này là của anh L, anh không có quyền lợi yêu cầu hay thắc mắc gì.

Chị Trần Thị N1 (Anh T2) có quan điểm: Ngày 28/3/2020, ông H1 và anh T2 có mua của gia đình ông L1 96m² đất với giá 432.000.000đ, chị có tên trong hợp đồng với tư cách thành viên gia đình. Nay, ông H1 đã cho anh L toàn bộ thửa đất số 03 tờ bản đồ số 14 nên thửa đất này là của anh L, chị không có quyền lợi, yêu cầu hay thắc mắc gì.

Chị Lại Thị S (Vợ anh L) có quan điểm: Ngày 04/7/2013, vợ chồng chị có mua của gia đình ông L1 124m² đất ao với giá 115.000.000đ, việc mua bán có giấy viết tay. Nay chị xác định phần đất này là của anh L, chị không có thắc mắc hay yêu cầu gì. Ngày 28/3/2020 ông H1 và anh T2 tiếp tục mua của ông L1 96m² đất với giá 432.000.000đ, việc mua bán có lập hợp đồng nhưng chị không liên quan gì về tiền hay quyền lợi, chị có tên với tư cách thành viên gia đình. Nay chị xác định thửa đất số 3 tờ bản đồ số 14 là của anh L, chị không có ý kiến thắc mắc gì.

Ngày 05/01/2023, Toà án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và thành lập Hội đồng định giá tài sản để đo đạc, khảo sát và định giá tài sản đối với phần diện tích đất và tài sản trên đất đang có tranh chấp, cụ thể: Thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14, tại địa chỉ: Số nhà C, đường T, tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, có giá trị: 427m² đất ở x 5.200.000đ/m² = 2.220.400.000đ; 191m2 đất BHK x 65.000đ/m² = 12.415.000đ; 68m² đất NTS x 65.000đ/m² = 4.420.000đ; tài sản trên phần đất đang có tranh chấp gồm: 01 phần của căn nhà mái bằng bê tông cốt thép, tường xây gạch đỏ, khung cột chịu lực, móng bê tông, chưa hoàn thiện, chưa chát. Kích thước: 03 tầng x 30m²/01 tầng = 90m², có giá trị: 282.120.000đ.

Tại kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 05/2023-ĐĐCL, tỷ lệ 1/500 ngày 10/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P đã thể hiện: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp ngày 10/3/2022 cho ông Nguyễn Văn H1, bà Lại Thị V (Đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P xác nhận việc ông H1, bà V tặng cho anh L 686m² ngày 06/4/2022) tại thửa số 3, tờ bản đồ số 14, tổng diện tích 1143m², thì ranh giới của thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, bản đồ địa chính so với ranh giới thửa đất theo đo đạc hiện trạng xác định được phần diện tích đất có tranh chấp thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14 của anh Nguyễn Thành L xác định được là 30m² (Trong đó: 13m² là đất vườn (BHK) và 17m² là đất UB). Có vị trí, kích thước: tiếp giáp thửa đất số 526, tờ bản đồ số 14 của anh N, chị M có tứ cận: Phía Đông dài 5,50m; phía Tây dài 5,50m; phía Nam dài 5,54m; phía Bắc dài 5,56m; phần diện tích 30m² đang tranh chấp vợ chồng anh N, chị M đã sử dụng xây nhà ba tầng kiên cố.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 92, 147, 157, 165, 184, 185, 227, 228, 244, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 100, 166, 170 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; các Điều 158, 163, 164, 166, 175, 176, 579, 580 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bác một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành L đối với yêu cầu khởi kiện đòi anh Đỗ Văn N, chị Hoàng Thị M trả lại 17m² đất UB thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14 tại địa chỉ: Tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

Bác yêu cầu phản tố của anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh và gia đình ông Nguyễn Văn L1. Bác yêu cầu của anh N về việc đề nghị hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 30m², thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14 tại địa chỉ: Tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành L, về việc kiện đòi anh Đỗ Văn N, chị Hoàng Thị M trả lại phần diện tích 13m² đất vườn (BHK), thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14, tại địa chỉ: Tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

Buộc vợ chồng anh Đỗ Văn N, chị Hoàng Thị M phải trả lại cho anh Nguyễn Thành L giá trị quyền sử dụng 13m² đất vườn bằng tiền là: 845.000đ (T4 trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Giao cho anh Đỗ Văn N, chị Hoàng Thị M được quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích 13m² đất vườn (BHK) thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14, tại địa chỉ: Tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, (Có sơ đồ kèm theo tại vị trí S1). Vợ chồng anh N, chị M có nghĩa vụ chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền về đất đai, xây dựng đối với 13m² đất BHK và 17m² đất UB đã xây dựng nhà ba tầng kiên cố và đăng ký biến động đất đai tại cơ quan có thẩm quyền.

Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 7.000.000 đồng do anh L đã nộp tạm ứng và thanh toán. Nay anh N, chị M có nghĩa vụ thanh toán trả lại anh L số tiền 3.033.000đ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh N, chị M phải chịu 300.000 đồng. Anh L phải chịu 300.000 đồng; anh L được đối trừ tạm ứng án phí đã nộp 750.000 đồng ngày 18/10/202 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý và được nhận lại 450.000 đồng.

Án phí đối với yêu cầu phản tố: Anh N, chị M phải chịu 300.000 đồng. Anh N, chị M được đối trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng ngày 17/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04 tháng 3 năm 2022 tại Phòng C vô hiệu và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đồng thời chấp nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình anh N với gia đình ông L1 là hợp pháp và chấp nhận yêu cầu phản tố của vợ chồng anh N.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, anh Nguyễn Thành L kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án theo hướng: Yêu cầu vợ chồng anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M trả anh L diện tích 30m² đất gồm 13m² đất vườn và 17 m² đất UB thuộc thửa số 3, tờ bản đồ số 14, tại Tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam và anh N, chị M phải tháo dỡ tài sản nằm trên diện tích 30m² đất.

Ngày 18 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam kháng nghị một phần bản án sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm theo hướng: Xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn và hủy một phần Hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông L1 sang chị C, từ chị C sang vợ chồng ông H1 và từ vợ chồng ông H1 sang anh L bao trùm cả diện tích đã bán cho anh N (13m² đất vườn) bị vô hiệu một phần.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và các bị đơn đều thống nhất thỏa thuận như sau:

Vợ chồng anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M tự nguyện bồi thường, hỗ trợ số tiền 70.000.000 đồng cho anh Nguyễn Thành L (Hai bên đã giao nhận đủ số tiền đã thỏa thuận); anh Nguyễn Thành L có trách nhiệm phối hợp cùng cơ quan có thẩm quyền làm các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 13m² đất vườn (BHK) theo quy định và thỏa thuận anh Nguyễn Thành L chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định, định giá tài sản; anh Đỗ Văn N, chị Hoàng Thị M chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với trị giá diện tích 13m² đất theo quy định. Ngoài ra, anh Nguyễn Thành L và người đại diện theo ủy quyền của anh L còn rút yêu cầu kháng cáo về việc khởi kiện đòi anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M trả lại 17m² đất UB. Anh Đỗ Văn N và người đại diện theo ủy quyền của chị Hoàng Thị M rút kháng cáo đối với yêu cầu phản tố về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh N, chị M với gia đình ông Nguyễn Văn L1 và rút kháng cáo về việc đề nghị hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 30m² đất, thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14 ở tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, rút một phần kháng nghị số 2438/QĐ-VKS-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam; với lý do: Tại phiên tòa các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 289, Điều 300, Điều 312, Điều 308 và khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đình chỉ một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đối với đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn và hủy một phần Hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông L1 sang chị C, từ chị C sang vợ chồng ông H1 và từ vợ chồng ông H1 sang anh L bao trùm cả diện tích 13m² đất vườn đã bán cho anh N (Bị vô hiệu một phần); chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam về việc thay đổi lại quan hệ pháp luật thành “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo mà các đương sự đã rút tại phiên tòa; đồng thời, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể: Bị đơn bồi thường, hỗ trợ nguyên đơn số tiền 70.000.000 đồng giá trị quyền sử dụng 13m² đất do hai bên đang tranh chấp và nguyên đơn chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá tài sản; bị đơn chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị quyền sử dụng 13m² đất đang có tranh chấp. Án phí dân sự phúc thẩm các đương sự không phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Vụ án dân sự tranh chấp về mốc giới quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa phúc thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt; các đương sự có mặt tại phiên tòa và đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị tiếp tục xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án: Diện tích 30m² đất đang có tranh chấp giữa anh Nguyễn Thành L và vợ chồng anh Đỗ Văn N, chị Hoàng Thị M có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn L1. Ngày 08/11/2014, ông L1 bán cho vợ chồng anh N, chị M với giá 100.000.000 đồng; việc mua bán có lập văn bản nhưng không thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Sau đó, gia đình anh N xây tường bao và công trình phụ; đến tháng 02 năm 2014, gia đình anh N phá công trình phụ để xây nhà mái bằng. Khoảng tháng 02 năm 2021, ông Nguyễn Văn L1 tặng cho chị Nguyễn Thị C 455m² đất tại thửa số 497, tờ bản đồ số 14 (Trong đó có 30m² đất đã bán cho anh N, chị M) và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2022, gia đình ông Nguyễn Văn H1 và bà Lại Thị V (Bố mẹ đẻ anh L) có mua thêm của chị Nguyễn Thị C (Con ông Nguyễn Văn L1) diện tích 173m², gồm: 67m² đất ở, 69m² đất vườn và 37m² đất ao với giá 670.000.000 đồng, giáp phần đất của nhà ông H1, bà V (Trong đó có 13m² đất vườn và 17m² đất UB) mà các bên đương sự đang có tranh chấp; đến ngày 10/3/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H1 và bà Lại Thị V.

Ngày 06/4/2022, ông Nguyễn Văn H1 và bà Lại Thị V tặng cho anh Nguyễn Thành L toàn bộ thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14 với tổng diện tích 686m² đất; trong đó có 30m² đất mua của chị C và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P, tỉnh Hà Nam xác nhận vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H1, bà V. Nay, cả nguyên đơn và bị đơn đều tranh chấp quyền sử dụng 30m² đất (Trong đó có 13m² đất vườn và 17m² đất UB).

[3] Xét kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy:

[3.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Thành L và người đại diện theo ủy quyền của anh L rút yêu cầu kháng cáo về việc khởi kiện đòi anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M trả lại 17m² đất UB. Anh Đỗ Văn N và người đại diện theo ủy quyền của chị Hoàng Thị M rút kháng cáo đối với yêu cầu phản tố về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh N, chị M với gia đình ông Nguyễn Văn L1 và rút kháng cáo về việc đề nghị hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 30m² đất, thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14 ở tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Việc các đương sự rút một phần kháng cáo tại phiên tòa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những yêu cầu kháng cáo đã rút là phù hợp với khoản 3 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.2] Việc nguyên đơn và các bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận giải quyết vụ án, cụ thể: Vợ chồng anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M tự nguyện bồi thường, hỗ trợ số tiền 70.000.000 đồng cho anh Nguyễn Thành L để anh N, chị M được quyền quản lý, sử dụng 13m² đất vườn và anh L có trách nhiệm phối hợp cùng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm các thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho gia đình anh N đối với diện tích 13m² đất vườn (BHK) theo quy định của pháp luật; đồng thời, thỏa thuận anh Nguyễn Thành L chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản; anh Đỗ Văn N, chị Hoàng Thị M chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với giá trị quyền sử dụng 13m² đất theo quy định.

Đối với số tiền 70.000.000 đồng các đương sự đều thừa nhận hai bên đã giao nhận đủ tiền vào ngày 26 tháng 12 năm 2023 và không còn ý kiến gì khác.

Hội đồng xét xử thấy việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận.

[4] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị về việc đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn và hủy một phần Hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông L1 sang chị C, từ chị C sang vợ chồng ông H1 và từ vợ chồng ông H1 sang anh L bao trùm cả diện tích 13m² đất vườn đã bán cho anh N (Bị vô hiệu một phần). Vì vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng nghị đã rút. Đối với nội dung kháng nghị về quan hệ tranh chấp, quá trình thụ lý, giải quyết và ban hành các văn bản tố tụng, cấp sơ thẩm đều xác định đây là vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; tuy nhiên, Bản án sơ thẩm lại ghi “Tranh chấp về mốc giới quyền sử dụng đất” là không đúng, bởi lẽ: Diện tích 13m² đất tranh chấp đều có nguồn gốc do các bên mua bán mà có; đương sự không khởi kiện tranh chấp về mốc giới. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng nghị này của Viện Viểm sát nhân dân tỉnh H.

[5] Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Thành L tự nguyện chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với tổng số tiền 7.000.000 đồng (Anh L đã nộp đủ và thanh toán xong tại cấp sơ thẩm).

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự; buộc anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền 70.000.000 đồng theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm khoản 3 Điều 289; Điều 300; Điều 312; khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam về việc chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn và hủy một phần Hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông L1 sang chị C, từ chị C sang vợ chồng ông H1 và từ vợ chồng ông H1 sang anh L bao trùm cả diện tích 13m² đất vườn đã bán cho anh N (Bị vô hiệu một phần).

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Thành L khởi kiện đòi anh Đỗ Văn N, chị Hoàng Thị M trả lại 17m² đất UB thuộc thửa đất số 3, tờ bản đồ số 14 ở tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

- Đình chỉ một phần yêu cầu kháng cáo của anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh N, chị M với gia đình ông Nguyễn Văn L1 và yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 30m² đất, thuộc thửa số 3, tờ bản đồ số 14, tại tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; các Điều 92; 147; 157; 165; 184; 185; 227; 228; 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 100; 166; 170; Điều 203 của Luật Đất đai. Các Điều 158; 163; 164; 166; 579; 580 của Bộ luật Dân sự. Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Sửa quan hệ “Tranh chấp về mốc giới quyền sử dụng đất” thành “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể:
    1. Anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M bồi thường, hỗ trợ anh Nguyễn Thành L số tiền 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng) giá trị quyền sử dụng của 13m² đất vườn (BHK). Ghi nhận anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M đã giao đủ số tiền 70.000.000 đồng (Bẩy mươi triệu đồng) cho anh Nguyễn Thành L ngày 26 tháng 12 năm 2023.
    2. Giao anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M được quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích 13m² đất vườn (BHK) thuộc thửa số 3, tờ bản đồ số 14, tại địa chỉ: Tổ F, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam (Hiện anh N, chị M đã xây nhà kiên cố trên diện tích 13m² đất vườn); có các tứ cận như sau:

      Phía Bắc và phía Nam dài 2.43m; phía Đông và phía Tây dài 5.50m (Có sơ đồ kèm theo).

    3. Anh Đỗ Văn N, chị Hoàng Thị M và anh Nguyễn Thành L có nghĩa vụ chấp hành quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất đai, xây dựng đối với 13m² đất vườn (BHK) và 17m² đất UB mà gia đình anh N, chị M xây dựng nhà ba tầng kiên cố và đăng ký biến động đất đai tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
  3. Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.
  4. Về chi phí tố tụng: Anh Nguyễn Thành L phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng); anh L2 đã nộp đủ.
  5. Về án phí:
    1. Anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M phải chịu số tiền 3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu phản tố; tổng cộng anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M phải chịu số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng). Đối trừ số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo các Biên lai số 0001623 ngày 17/3/2023 và Biên lai số 0001715 ngày 02/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; anh N và chị M còn phải nộp tiếp số tiền 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng).
    2. Anh Nguyễn Thành L phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; đối trừ số tiền 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001551 ngày 18/10/2022 và Biên lai số 0001713 ngày 29/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; trả lại anh Nguyễn Thành L số tiền 750.000 đồng (Bẩy trăm năm mươi nghìn đồng).
    3. Các đương sự đều không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV&THA Tòa án tỉnh Hà Nam;
  • - TAND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam;
  • - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý;
  • - Các đương sự;
  • - Bộ phận HCTP;
  • - Tòa DS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Đức Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2023/DS - PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 27/2023/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Thành L tranh chấp 13m2 đất vườn với anh Đỗ Văn N và chị Hoàng Thị M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger