TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2022/HSST
Ngày: 28/12/2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Quách văn Thành.
Bà: Lý Thị The.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa:
Ông Võ Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2022/TL-ST-HS, ngày 23 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo.
- Ky Hu B: Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/01/1980; nơi sinh: Huyện Mường T, tỉnh Lai C; Nơi ĐKHKTT: Bản Chà D, xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Ky Mò X ( đã chết) và con bà Lỳ Gió B, sinh năm 1960; Chồng Thàng Gạ C, sinh năm 1971; Con, có 04 con; con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/08/2022 tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C cho đến nay - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Ky Hu B: Ông Lê Mạnh Hùng - Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai C - Có mặt.
- Người phiên dịch cho bị cáo Ky Hu B: Ông Vàng Ma X - Trú tại khu phố 07, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 17/08/2022, Ky Hu B đi bộ từ nhà ở bản Chà D, xã Bum T, đến khu rừng gần ngã ba đường rẽ vào bản Phìn K, xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh Lai C để hái măng thì gặp một người đàn ông dân tộc La Hủ lạ mặt qua trao đổi, B mua được của người đàn ông này 01 (một) gói Heroine, bên ngoài được gói ngoài bằng 01 mảnh nilon màu xanh với giá 200.000 đồng, mục đích là để sử dụng. B cất giấu gói Heroine vào trong túi vải thổ cẩm đang đeo trên người rồi tiếp tục đi bộ về lán nương của mình. B lấy gói Heroine ra lấy một ít Heroine để sử dụng, số Heroine còn lại B gói lại như cũ cất giấu vào trong túi vải đeo trên người. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 18/08/2022, thì bị tổ công tác Công an xã Bum T phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác lập biên bản thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định tư pháp số 94/KLGĐ, ngày 18/08/2022 của người giám định tư pháp thuộc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C kết luận: 01 gói chất bột khô, màu trắng vật chứng thu giữ của Ky Hu B có khối lượng là 0,37 gam.
Tại kết luận giám định số: 728/GĐ-KTHS ngày 23/08/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Ky Hu B gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 112/CT-VKS-MT ngày 23 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, truy tố Ky Hu B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
Trách nhiệm hình sự:
Đối với Ky Hu B về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ky Hu B từ: 01 (một) năm 02 (hai) tháng đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh nilon màu xanh; 01 (một) chiếc túi vải thổ cẩm đã qua sử dụng là vật chứng thu giữ còn lại của Ky Hu B. Do đây là vật bị cáo dùng để gói và cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 18/08/2022 tại bản Chà D, xã Bum T, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Ky Hu B đang tàng trữ trái phép 0,37 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Bum T, huyện Mường T phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
[2]. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Ky Hu B luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo, nhận thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống ở xã Bum T, huyện Mường T là xã thuộc huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.
[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ky Hu B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về nhân thân: Bị cáo Ky Hu B có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở xã Bum T thuộc huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[7]. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh nilon màu xanh; 01 (một) chiếc túi vải thổ cẩm đã qua sử dụng là vật chứng thu giữ còn lại của Ky Hu B. Do đây là vật bị cáo dùng để gói và cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo, khó khăn sinh sống ở xã Bum T, thuộc huyên biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, Cần miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.
[9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Ky Hu B đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xét ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về tội danh; điều luật áp dụng; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, do vậy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và của người bào chữa được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10]. Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán Heroine với giá 200.000 đồng cho bị cáo Ky Hu B. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Ky Hu B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ky Hu B: 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 18/08/2022.
- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Ky Hu B.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh nilon màu xanh; 01 (một) chiếc túi vải thổ cẩm đã qua sử dụng vật chứng thu giữ còn lại của Ky Hu B.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhân
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lò Xuân Hải |
Bản án số 27/2022/HSST ngày 28/12/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 27/2022/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ky Hu B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
