Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 27/2022/HS-ST

Ngày 22-4-2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đình Thi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Thấu và bà Nguyễn Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 24/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Đức M, sinh ngày 25/10/2002 tại huyện V, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã L1, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức M1 và bà Vũ Thị L; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

  • - Bị hại: Chị Vũ Như Y, sinh ngày 24/5/2003; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện G, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn B, xã L1, huyện V, tỉnh Thái Bình. (có mặt)
  • - Người làm chứng: Ông Vũ Ngọc H, chị Vũ Thị Hà C, chị Đỗ Thị Thu H1, anh Lê Việt A, anh Tạ Văn C1 và anh Đào Văn Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8/2020, Trần Đức M sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên "Trần Đức M" kết bạn, làm quen với tài khoản mạng xã hội Facebook tên "Ý Như Vũ" của chị Vũ Như Y. Sau một thời gian trò chuyện, mặc dù chưa gặp mặt nhưng M và chị Y nảy sinh tình cảm yêu nhau, cả hai thường xuyên nhắn tin, gọi điện video call qua ứng dụng Messenger để nói chuyện, trong đó có một số lần gọi vào thời điểm chị Y đang tắm hoặc thay quần áo, M đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus để 01 lần chụp ảnh màn hình cảnh chị Y đang mặc áo để hở phần eo, lưng và 02 lần ghi lại màn hình điện thoại ghi cuộc gọi video chị Y đang tắm trong nhà tắm, hở toàn bộ phần ngực và thân thể phía trên của chị Y. M đã lưu lại trong điện thoại: 01 ảnh chụp màn hình cảnh chị Y đang mặc áo để hở phần eo; 01 video có thời lượng 01 phút 44 giây, 01 video có thời lượng 02 phút 55 giây quay chị Y đang tắm trong nhà tắm, hở toàn bộ phần ngực và thân thể phía trên của chị Y.

Đến khoảng tháng 8/2021, chị Y nhắn tin nói chia tay với M. M không đồng ý và nhiều lần nhắn tin, nói chuyện níu kéo mối quan hệ yêu đương với chị Y. M nhiều lần đe dọa nếu chị Y chia tay, M sẽ chia sẻ hình ảnh, video nhạy cảm của chị Y cho người thân, bạn bè của chị Y để chị Y phải tiếp tục yêu M. Tuy nhiên chị Y nói không hợp và không muốn duy trì mối quan hệ yêu đương với M.

Do chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus của M bị vỡ, hỏng, không hoạt động được nên M mượn của mẹ đẻ là bà Vũ Thị L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max để sử dụng. M đã chuyển các dữ liệu điện tử từ chiếc Iphone 8 Plus đã bị hỏng sang chiếc Iphone 11 Pro Max. Do mâu thuẫn về chuyện tình cảm với chị Y nên M đã sử dụng 01 ảnh chụp màn hình cảnh chị Y đang mặc áo để hở phần eo, lưng; 01 video có thời lượng 01 phút 44 giây; 01 video có thời lượng 02 phút 55 giây quay cảnh chị Y đang tắm trong nhà tắm, hở toàn bộ phần ngực và thân thể phía trên để đăng tải lên mạng xã hội và gửi cho người thân, bạn bè của chị Y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Trần Đức M và chị Vũ Như Y có quan hệ yêu đương nam nữ, sau khi M bị chị Y nói lời chia tay, trong các ngày 13/12/2021, 14/12/2021, 15/12/2021, M đã có hành vi sử dụng mạng viễn thông internet, phương tiện điện tử điện thoại di động thông minh với các ứng dụng Facebook, Messenger, Zalo 03 lần thực hiện hành vi đăng tải hình ảnh, video nhạy cảm của chị Vũ Như Y lên mạng xã hội Facebook với tài khoản "Trần Đức M", tài khoản có tên chữ nước ngoài của M và tài khoản Facebook "Ý Như Vũ" của chị Y, lên tài khoản mạng xã hội Zalo mang tên "Trần Đức M" để công khai hình ảnh, video nhạy cảm của chị Y và gửi các hình ảnh, video nhạy cảm của chị Y cho người thân, bạn bè của chị Y làm cho chị Y phải xấu hổ, nhục nhã với người thân, bạn bè và với nhiều người khác trên không gian mạng, đã xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của chị Vũ Như Y.

[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đăng tải công khai hình ảnh, video nhạy cảm của người khác lên mạng xã hội và gửi các hình ảnh, video nhạy cảm của họ cho người thân, bạn bè của họ là xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo đã 03 lần sử dụng mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi này vào 03 ngày khác nhau nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Làm nhục người khác" quy định tại các điểm a, e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, VKSND huyện Gia Lộc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điểm a, e khoản 2 Điều 155, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106, các điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Đức M phạm tội "Làm nhục người khác". Xử phạt bị cáo Trần Đức M 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
  2. Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 8 Plus màu đỏ, vỏ máy và màn hình bị vỡ, bên trong máy không lắp sim số.
  3. Về án phí: Bị cáo Trần Đức M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- Bị cáo;
- Bị hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương;
- Cơ quan điều tra, Công an huyện Gia Lộc;
- Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ, Công an huyện Gia Lộc;
- Cơ quan Thi hành án hình sự, Công an huyện Gia Lộc;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc;
- Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Vương Đình Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2022/HS-ST ngày 22/04/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương về làm nhục người khác

  • Số bản án: 27/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm nhục người khác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đức M và chị Vũ Như Y có quan hệ yêu đương nam nữ, sau khi M bị chị Y nói lời chia tay, trong các ngày 13/12/2021, 14/12/2021, 15/12/2021, M đã có hành vi sử dụng mạng viễn thông internet, phương tiện điện tử điện thoại di động thông minh với các ứng dụng Facebook, Messenger, Zalo 03 lần thực hiện hành vi đăng tải hình ảnh, video nhạy cảm của chị Vũ Như Y lên mạng xã hội Facebook với tài khoản "Trần Đức M", tài khoản có tên chữ nước ngoài của M và tài khoản Facebook "Ý Như Vũ" của chị Y, lên tài khoản mạng xã hội Zalo mang tên "Trần Đức M" để công khai hình ảnh, video nhạy cảm của chị Y và gửi các hình ảnh, video nhạy cảm của chị Y cho người thân, bạn bè của chị Y làm cho chị Y phải xấu hổ, nhục nhã với người thân, bạn bè và với nhiều người khác trên không gian mạng, đã xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của chị Vũ Như Y.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger