|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN ________________ Bản án số: 27/2021/HS - ST Ngày 29/6/2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Mạnh Hà và ông Lương Kim Phong.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Mai Duy Định - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2021/TLST-HS, ngày 06 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị S, Sinh ngày 19/6/1979 tại Chợ Đồn, Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Chỗ ở hiện nay: Tổ N, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tiến K và bà Lục Thị T (Đều đã chết); Chồng Mai Phúc Dg (Đã chết); Có 01 con S năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2020 đến ngày 31/12/2020 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hoàng Văn H, Sinh năm 1976; HKTT: Thôn N, xã G, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Chỗ ở: Thôn N, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
- La Đình T, Sinh năm 1981; Trú tại: Tổ 17, phường, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
- Trần Thị Đ, Sinh năm 1983; Trú tại: Thôn T, xã H, huyện Yh, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- Hoàng Thị B, Sinh năm 1977; Trú tại: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
- Đặng Anh T, Sinh năm 1998; Trú tại: Thôn 4, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
- Đặng Văn T1, Sinh năm 1958; HKTT: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Tạm trú: Tổ N, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Triệu Thị D, Sinh năm 1978; Trú tại: Thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 40 phút, ngày 24/12/2020, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại quán Karaoke - Nhà nghỉ 9999 thuộc tổ N, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn do Nguyễn Thị S, Sinh năm 1979, chỗ ở thị trấn Bằng Lũng, huyện C quản lý có biểu hiện hoạt động mại dâm. Phòng Cảnh sát hình sự đã phối hợp với chính quyền địa phương và Công an thị trấn Bằng Lũng kiểm tra. Kết quả hồi 20 giờ 50 phút cùng ngày phát hiện bắt quả tang tại phòng 102 có một đôi nam, nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm là La Đình T và Trần Thị Đ. Thu giữ 01 (một) chiếc bao cao su đã qua sử dụng và 02 vỏ túi bao cao su đã xé màu đen, nhãn hiệu OKAMEN.
Tại phòng 103 có một đôi nam nữ đang nằm trên giường, nam mặc áo không mặc quần, nữ không mặc quần áo, người nữ đang dùng tay kích dục cho người nam gồm Hoàng Văn H và Hoàng Thị B. Thu giữ 01 hộp bao cao su nhãn hiệu OK màu đỏ, bên trong có 03 chiếc bao cao su chưa sử dụng.
Quá trình điều tra đối với Nguyễn Thị S xác định: Quán Karaoke – Nhà nghỉ 9999 thuộc tổ N, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn do ông Đặng Văn T1, Sinh năm 1958, nơi ĐKHKTT: xã V thành phố T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: tổ Nà Pài, thị trấn B, huyện C là chủ đầu tư xây Dựng từ năm 2000, do không có hộ khẩu thường trú tại huyện C nên ông T1 nhờ bà Triệu Thị D, sinh năm 1978, trú tại thôn B, xã P, huyện C đứng tên trong giấy phép đăng ký kinh doanh, ngoài việc kinh doanh quán Karaoke – Nhà nghỉ ông T1 còn nhận xây Dựng các công trình và thường xuyên đi làm xa. Tháng 3 năm 2020, ông T1 trao đổi, thỏa thuận miệng với Nguyễn Thị S (ông T1 thuê làm tại quán) về việc giao toàn bộ cơ sở vật chất và hoạt động kinh doanh của quán cho S quản lý, hàng tháng S phải trả cho ông T1 số tiền từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ và được S đồng ý. Quá trình quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của quán, để tăng thêm thu nhập S đã thuê thêm nhân viên nữ gồm Trần Thị Đ và Hoàng Thị B phục vụ phòng hát và đồng ý cho Đ, B bán dâm khi khách có nhu cầu mua dâm tại các phòng nghỉ của quán.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vì mục đích vụ lợi nên Nguyễn Thị S đã nhiều lần có hành vi bố trí, sắp xếp cho Trần Thị Đ và Hoàng Thị B bán dâm tại quán Karaoke – Nhà nghỉ 9999 thuộc tổ N, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn nơi S được giao quản lý, điều hành.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị S phạm tội “Chứa mại dâm”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ số ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2020 đến ngày 31/12/2020.
2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 327 Bộ luật hình sự, phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy các bao cao su và vỏ bao cao su, 04 quyển sổ bìa màu xanh.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.330.000 đồng là tiền thu lợi bất chính.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 930.000 đồng và 01 điện thoại di động Realme cũ (tạm giữ để đảm bảo thi hành án).
- Trả lại cho ông Đặng Văn T1 02 chiếc chìa khóa phòng.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 – TANDTC; - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh; - Phòng Hình sự - Công an tỉnh; - Cục THADS tỉnh; - THAHS; - Sở Tư pháp tỉnh; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Quang Huy |
Bản án số 27/2021/HS - ST ngày 29/06/2021 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về chứa mại dâm
- Số bản án: 27/2021/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/06/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị S phạm tội Chứa mại dâm
