|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 27/2021/HNGĐ-ST Ngày: 13-7-2021 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Độ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng và ông Nguyễn Quốc Vượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thái Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
Ngày 13 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 100/2021/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2021 về: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10-6-2021 và thông báo mở lại phiên tòa số: 36/TB-TA ngày 01 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V- Sinh năm 1993. Vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Trần Mạnh C – Sinh năm 1991. Vắng mặt.
- Cùng địa chỉ: Tổ 02, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06-04-2021, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Mạnh C đăng ký kết hôn ngày 05-7-2016 tại UBND phường Minh Tân, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 6 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh C ham chơi, cờ bạc, không quan tâm chăm sóc cho gia đình, dẫn đến vợ chồng cãi, chửi, xúc phạm, không tôn trọng nhau, mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không cải thiện được. Mâu thuẫn trầm trọng từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay, chị và anh C đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
Về nuôi con: Chị và anh C có 02 con chung là cháu Trần Nguyễn Bảo C, sinh ngày 29-11-2016 và cháu Trần Nguyễn Bảo D, sinh ngày 16-9-2018, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 07-4-2021, bị đơn anh Trần Mạnh C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn như chị V trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, xảy ra tranh cãi. Anh C xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ.
Về nuôi con: Anh và chị V có 02 con chung là cháu Trần Nguyễn Bảo C, sinh ngày 29-11-2016 và cháu Trần Nguyễn Bảo D, sinh ngày 16-9-2018. Hiện hai cháu đang ở với chị V, nếu ly hôn anh đồng ý cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu và anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về Ly hôn và tranh chấp về nuôi con; Bị đơn anh Trần Mạnh C có nơi cư trú tại: Tổ 02, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Trần Mạnh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường Minh Tân, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái ngày 05-7-2016 là hôn nhân hợp pháp. Các đương sự đều thừa nhận sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không khắc phục được, chị V xác định vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01-2021, không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn anh C vắng mặt không có lý do, thể hiện anh C không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị V là có căn cứ, cần chấp nhận. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Trần Mạnh C.
Chị V và anh C có hai con chung là cháu Trần Nguyễn Bảo C, sinh ngày 29-11-2016 và cháu Trần Nguyễn Bảo D, sinh ngày 16-9-2018. Hiện nay hai cháu đang ở với chị V. Chị V đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai anh C cũng đồng ý để chị V nuôi cả 2 con và anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Do đó, cần giao hai cháu Trần Nguyễn Bảo C và Trần Nguyễn Bảo D cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho tới khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi là phù hợp. Chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị V và anh C đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị V phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
[6] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Trần Mạnh C.
- Về nuôi con: Giao cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Nguyễn Bảo C, sinh ngày 29-11-2016 và Trần Nguyễn Bảo D, sinh ngày 16-9-2018 cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Trần Mạnh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Trần Mạnh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2017/0009016 ngày 14-4-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, (chị V đã nộp đủ).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TA tỉnh; - VKSND tp. Yên Bái; - THADS tp. Yên Bái; - Các đương sự; - UBND p. Minh Tân, tp Yên Bái; - Lưu HS; TA |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Độ |
Bản án số 27/2021/HNGĐ-ST ngày 13/07/2021 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 27/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Mạnh C và đề nghị được nuôi hai con, không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.
