Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26a/2024/DS-ST

Ngày: 23/7/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng dân

sự, vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Vũ và bà Ngô Kim Quyên

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Tấn Bửu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2024/TLST-DS ngày 05/02/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số 95/2024/QÐST-DS ngày 21/63/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1 (S2) (gọi tắt là Ngân hàng); Địa chỉ: Số B N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP S1.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Kha Đức T – Chức vụ: Trưởng phòng G – Chi nhánh A.

Ông Kha Đức T uỷ quyền lại: Ông Phạm Minh T1 – Chức vụ: Phó phòng giao dịch T – Chi nhánh A (có mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1991; cư trú: ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngày 12/5/2020, chị Nguyễn Thị Thùy T2 có ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S1 (gọi tắt là Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của chị T2, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị T2 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 31.790.000 đồng, phí trễ hạn 1.532.744 đồng, tiền lãi 24.794.142 đồng, phí vượt hạn mức 1.150.000 đồng, phí thẻ 1.107.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay chị T2 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 29.665.000 đồng. Đến ngày 23/12/2022, chị T2 không còn thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng. Mặc dù, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với chị T2, yêu cầu chị T2 có trách nhiệm thanh toán khoản nợ quá hạn và Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để chị T2 trả nợ. Tuy nhiên, chị T2 vẫn chưa thanh toán các khoản nợ vay cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng các bên đã ký.

Tính đến ngày 23/7/2024, chị T2 còn nợ số tiền là 62.809.372 (sáu mươi hai triệu tám trăm lẻ chín nghìn ba trăm bảy mươi hai) đồng (trong đó, dư nợ gốc: 30.708.886 đồng; lãi trong hạn và phí: 21.433.657 đồng; lãi quá hạn: 10.666.829 đồng).

Nay Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu chị Nguyễn Thị Thùy T2 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/7/2024 là 62.809.372 (sáu mươi hai triệu tám trăm lẻ chín nghìn ba trăm bảy mươi hai) đồng và khoản lãi phát sinh từ ngày 24/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Để chứng minh cho yêu cầu, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp các tài liệu, chứng cứ: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (Bản phô tô, đã đối chiếu bản chính); Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ cá nhân của Ngân hàng TMCP S1 (Bản photo); Chứng minh nhân dân bà T2S hộ khẩu gia đình bà T2 (Bản photo); Giấy ủy quyền đề ngày 29/9/2023 (Bản chính); Quyết định số 1707/2023/QĐ-QTNNL về việc tái bổ nhiệm nhân sự ngày 27/04/2023 (Bản photo); Quyết định số 3272/2022/QĐ-PL về việc ủy quyền ký hợp đồng, thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng ngày 26/12/2022 (Bản sao); Sao kê thẻ tín dụng (Bản chính); Bảng sao kê bảng tính đến ngày 23/7/2027 (tại phiên tòa).

Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án số 72/TB-TLVA ngày 05/02/2023 và niêm yết các văn bản tố tụng khác cho chị Nguyễn Thị Thùy T2 theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình tố tụng, Tòa án tiến hành xác minh tình trạng cư trú của chị T2 tại Công an xã C, thị xã T, tỉnh An Giang, cụ thể:

Công an xã C, thị xã T, tỉnh An Giang cung cấp: Đương sự T2 có đăng ký cư trú tại ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang nhưng chị T2 vắng mặt tại địa phương.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử đúng pháp luật. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét sử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn phù hợp tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1, buộc chị T2 trả nợ cho Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền số tiền là 62.809.372 (sáu mươi hai triệu tám trăm lẻ chín nghìn ba trăm bảy mươi hai) đồng (trong đó, dư nợ gốc: 30.708.886 đồng; lãi trong hạn và phí: 21.433.657 đồng; lãi quá hạn: 10.666.829 đồng) (tạm tính đến ngày 23/7/2027) và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 24/7/2024 cho đến khi tất toán khoản nợ vay. Chị T2 phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản (Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng) với bị đơn là chị Nguyễn Thị Thùy T2; chị T2 có nơi cư trú: Ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị Thùy T2 được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

*Về nội dung:

[1] Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số: 772757 ngày 12/05/2020 giữa Ngân hàng TMCP K với chị Nguyễn Thị Thùy T2 được lập thành văn bản và ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

[2] Vốn vay: Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay chị T2 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 29.665.000 đồng. Đến ngày 23/12/2022, chị T2 không còn thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu chị T2 phải trả nợ gốc 30.708.886 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 280, 351, 357, 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự. Xét, chấp nhận.

[3] Tiền lãi: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số: 772757 ngày 12/05/2020 giữa Ngân hàng với chị T2 đã có thỏa thuận về mức lãi suất, cụ thể: 32%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Theo quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Việc thỏa thuận mức lãi suất, cách tính lãi suất nêu trên do Ngân hàng với chị T2 tự thỏa thuận đã được thực hiện đúng quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 7, 8 và 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTPngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Ngân hàng yêu cầu chị T2 phải thanh toán lãi trong hạn và phí: 21.433.657 đồng; lãi quá hạn: 10.666.829 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh trên dư nợ từ ngày 24/7/2024 theo mức lãi suất thoả thuận tại Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số: 772757 ngày 12/05/2020 cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay, là phù hợp. Xét, chấp nhận.

[4] Buộc chị T2 phải có trách nhiệm trả vốn gốc và tiền lãi cho Ngân hàng, cụ thể:

  • - Nợ lãi, phí: 32.100.486 (ba mươi hai triệu một trăm nghìn bốn trăm tám mươi sáu) đồng.
  • - Vốn gốc: 30.708.886 (ba mươi triệu bảy trăm lẻ tám nghìn tám trăm tám mươi sáu) đồng;

“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho nguyên đơn. Chị T2 phải chịu 3.140.000 (ba triệu một trăm bốn mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 7, Điều 8 và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTPngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” đối chị Nguyễn Thị Thùy T2;

Buộc chị Nguyễn Thị Thùy T2 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S1:

  • - Nợ lãi, phí: 32.100.486 (ba mươi hai triệu một trăm nghìn bốn trăm tám mươi sáu) đồng.
  • - Vốn gốc: 30.708.886 (ba mươi triệu bảy trăm lẻ tám nghìn tám trăm tám mươi sáu) đồng;

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Thùy T2 phải chịu 3.140.000 (ba triệu một trăm bốn mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP S1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 1.088.000 (một triệu không trăm tám mươi tám nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0007629 ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[4] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của chị T2 là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND TX. Tân Châu (02);
  • - Chi cục THADS TX. Tân Châu (01);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26a/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản.

  • Số bản án: 26a/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: SCB yêu cầu Tr trả số tiền nợ vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger