Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 269/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-7-2024

V/v Ly hôn.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Triều;
  2. Ông Nguyễn Thành Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (số B đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4235/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Hoàng T, sinh năm 1991

Địa chỉ: B N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: 94 N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Nguyen Xuan T1, sinh năm 1993

Địa chỉ: số A R, P, SA E, Australia.

(Các đương sự đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/01/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn – ông Lê Hoàng T trình bày:

Năm 2018, ông Lê Hoàng T và bà Nguyen Xuan T1 tự nguyện kết hôn và đăng ký tại Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2018 ngày 06/4/2018 theo Trích lục kết hôn số 1185/TLKH-BS ngày 14/8/2023 của Ủy ban nhân dân quận T).

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau đó cả hai bất đồng quan điểm sống. Hiện nay, ông T đang ở Việt Nam, bà Nguyen Xuan T1 sống và làm việc tại Australia nên mỗi người ở một nơi, khi phát sinh mâu thuẫn thì không giải quyết kịp thời làm cho cả hai không còn tiếng nói chung, mặc dù đã nỗ lực hàn gắn nhưng không có kết quả, hiện nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa.

Ông T cho rằng không thể tiếp tục đời sống vợ chồng với bà Nguyen Xuan T1 nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Cả hai có 01 con chung tên Le W, sinh ngày 06/10/2018, giới tính: Nam. Hiện nay con chung đang ở cùng với mẹ là bà Nguyen Xuan T1 nên ông đồng ý giao con cho bà N Xuan Trang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; vấn đề cấp dưỡng nuôi con, ông T và bà Nguyen Xuan T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản tự khai đề ngày 15/4/2024 (đã được Sở Ngoại vụ Thành phố H chứng nhận lãnh sự số 0096836/SNV ngày 26/4/2024), bị đơn – bà Nguyen Xuan T1 trình bày:

Năm 2018, ông Lê Hoàng T và bà Nguyen Xuan T1 tự nguyện kết hôn và đăng ký tại Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2018 ngày 06/4/2018 theo Trích lục kết hôn số 1185/TLKH-BS ngày 14/8/2023 của Ủy ban nhân dân quận T).

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau đó cả hai bất đồng quan điểm sống. Hiện nay, ông T đang ở Việt Nam, bà Nguyen Xuan T1 sống và làm việc tại Australia nên mỗi người ở một nơi, khi phát sinh mâu thuẫn thì không giải quyết kịp thời làm cho cả hai không còn tiếng nói chung, mặc dù đã nỗ lực hàn gắn nhưng không có kết quả, hiện nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa.

Bà Nguyen Xuan T1 đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông T.

Về con chung: Cả hai có 01 con chung tên Le W, sinh ngày 06/10/2018, giới tính: Nam. Hiện nay con chung đang ở cùng với mẹ là bà Nguyen Xuan T1 nên ông đồng ý giao con cho bà N Xuan Trang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; vấn đề cấp dưỡng nuôi con, ông T và bà Nguyen Xuan T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ tranh chấp giữa ông Lê Hoàng T và bà Nguyen Xuan T1 là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có nơi cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn có nơi cư trú tại Hoa Kỳ nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình tố tụng, sau khi cung cấp lời khai và trình bày ý kiến, nguyên đơn – ông Lê Hoàng T và bị đơn – bà Nguyen Xuan T1 đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án đồng thời phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.

[2]. Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2018 do Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/4/2018 thì quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Hoàng T và bà Nguyen Xuan T1 là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của nguyên đơn - ông Lê Hoàng T và bị đơn - bà Nguyen Xuan T1 thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được khoảng thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã nỗ lực hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện ông T và bà Nguyen Xuan T1 mỗi người đang sinh sống và làm việc ở hai đất nước khác nhau nên khó có khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả ông T và bà Nguyen Xuan T1 đều đồng ý ly hôn để ổn định cuộc sống riêng. Xét thấy cuộc sống chung giữa ông T và bà N Xuan Trang không thể kéo dài, việc ly hôn là cần thiết, là nguyện vọng chính đáng đồng thời phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Ông Lê Hoàng T và bà Nguyen Xuan T1 có 01 con chung tên Le W, giới tính: Nam, sinh ngày 06/10/2018. Trong quá trình tố tụng, bà Nguyen Xuan T1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và ông T cũng đồng ý giao con chung cho bà N Xuan Trang nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyen Xuan T1 chưa có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Lê Hoàng T và bà Nguyen Xuan T1 khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn – ông Lê Hoàng T phải chịu án phí sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – ông Lê Hoàng T.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Hoàng T được ly hôn với bà Nguyen Xuan T1.
    • - Về con chung: Giao trẻ Le W, sinh ngày 06/10/2018 cho bà N Xuan Trang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Lê Hoàng T do bà Nguyen Xuan T1 chưa có yêu cầu.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của C, Mẹ hoặc cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    • - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Ông Lê Hoàng T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0032512 ngày 05/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T không phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Ông Lê Hoàng T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyen Xuan T1 được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:
  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Cục THA dân sự Tp.HCM;
  • - UBND Q. Tân Bình, Tp. HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Đặng Thị Bích Loan
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 269/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 269/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger