Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 269/2023/HNGĐ-ST.

Ngày: 27/12/2023.

V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.
  2. Ông Nguyễn Thanh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: không tham gia.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 725/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn – nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 603/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm 1993; Cư trú: Số E đường T, tổ A, ấp D, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1990; Nơi cư trú: số C ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà H trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn C do quen biết, tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2018 có đăng ký kết hôn theo quy định. Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2022 thì không còn chung sống với nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 28/6/2019 hiện đang sống với ông C, khi ly hôn bà H đồng ý để ông C nuôi con chung, bà không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Bị đơn và ông Nguyễn Văn C trình bày ông bà bà H kết hôn vào năm 2018 có đăng ký kết hôn; sau khi kết hôn vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nên đến năm 2022 thì không còn chung sống với nhau. Nay bà H xin ly hôn ông đồng ý.

Về còn chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 28/6/2019 hiện đang sống với ông, khi ly hôn ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện C, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2].Về nội dung tranh chấp: bà H ông C kết hôn vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo bà H và ông C trình bày, trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên từ đó vợ chồng thường hay cải nhau vợ chồng không còn chung sống từ năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, bà H yêu cầu ly hôn ông C đồng ý. Tuy nhiên do các đương sự có yêu cầu vắng mặt nên không tiến hành lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành được. Xét thấy, bà H, ông C đều có nguyện vọng được ly hôn. Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà H và ông C.

[3] Về quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 28/6/2019 hiện đang sống với ông C, khi ly hôn bà H đồng ý để ông C tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung, bà không cấp dưỡng nuôi con; phía ông C yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy sự thỏa thuận về việc nuôi con chung giữa bà H và ông C là phù hợp pháp luật nghĩ nên công nhận.

[4] Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

[5] Về quan hệ nợ chung: không có.

[6] Án phí hôn nhân sơ thẩm: bà H phải chịu là 300.000₫.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 55, 80, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị Thanh H với ông Nguyễn Văn C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 4 tháng 6 năm 2019 do Ủy ban nhân dân phường, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung:

Ông Nguyễn Văn C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 28/6/2019, bà Lê Thị Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: các bên không yêu cầu giải quyết.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà H xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà H, ông C phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Lê Thị Thanh H, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0014267 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 02/11/2023.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - UBND xã Nơi đăng ký kết hôn.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 269/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về hngđ - ly hôn nuôi con

  • Số bản án: 269/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: HNGĐ - Ly hôn nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn xin ly hôn vì tình cảm không còn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger