|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 269/2024/HS-ST Ngày: 28-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Minh Loan
Ông Vũ Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Lam - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Mai Hoàng Hải - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 249/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 249/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đình H, sinh năm: 1994, tại: tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký thường trú: Không; Nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố V, phường N (thôn V, xã N cũ), thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình C và bà Trần Thị B; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19-9-2011, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 03-02-2016, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 33 tháng tù, phạt tiền 5.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 20-01-2021, Công an thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 24-3-2021, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 06-8-2024, chuyển tạm giam ngày 09-8-2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Trần Đăng K, sinh năm 1985; nơi cư trú: Xóm G, xã K, huyện V, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06-8-2024, Lê Đình H đến nhà anh Trần Đăng C1, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố V, phường N (xã N cũ), thành phố N chơi. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, khi anh C1 đang ngủ, H tự ý lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18B1 - 220.31 của anh C1 đi đến quầy bán cà phê của anh Trần Đăng K tại vỉa hè trước cửa số nhà A Đ, phường N, thành phố N hỏi mua 02 cốc cà phê. Hải quan sát thấy trên bàn pha chế cà phê có 01 điện thoại di động Iphone đang cắm sạc nên nảy sinh ý định trộm cắp. H tiếp tục gọi thêm 01 cốc cà phê nữa rồi lợi dụng lúc anh K không để ý đã lén rút sạc, lấy chiếc điện thoại bỏ vào trong túi quần sau đó nhanh chóng điều khiển xe máy đi về nhà anh C1. H tháo sim điện thoại vất lại ở nhà anh C1 rồi giấu chiếc điện thoại vào trong túi quần bên trái đang mặc. Ngay sau khi sự việc xảy ra, anh K đã đến Công an phường N (xã N cũ) thành phố N để trình báo sự việc.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành rà soát, thu thập được 02 đoạn video trích xuất từ camera tại trước cửa số nhà H Đ, phường C, thành phố N và số nhà A Đ, phường N (xã N cũ), thành phố N xác định H là người thực hiện hành vi trộm cắp nên đã triệu tập H lên làm việc. H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại di động cùng chiếc ốp điện thoại đã trộm cắp.
Bản kết luận giám định số 1517/KL- KTHS ngày 05-9-2024, Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong 02 đoạn video trích xuất từ camera đã thu giữ.
Ngày 06-8-2024, chị Đinh Thị Ngọc A, sinh năm 1991, trú tại 4 T, phường M, thành phố N (là bạn gái của H) biết được sự việc đã tìm chiếc sim điện thoại mà H vất tại nhà anh C1 và giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 08-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: Chiếc điện thoại di động Iphone 13 mini là vật chứng trong vụ án trị giá 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Đối với chiếc ốp điện thoại và chiếc sim dùng đã lâu nên anh K không đề nghị định giá. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại, chiếc ốp và sim cho anh K. Anh K nhận lại tài sản và đề nghị xử lý Lê Đình H theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 253/CT-VKS ngày 27 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Lê Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Đình H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Lê Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06-8-2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đình H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Đình H và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Đình H trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Đơn trình báo và lời khai của bị hại; Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 08-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 06-8-2024, tại vỉa hè trước cửa số nhà A Đ, xã N (nay là phường N), thành phố N, lợi dụng chủ tài sản là anh Trần Đăng K không chú ý quan sát, bị cáo Lê Đình H đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Iphone 13 mini có giá trị 7.000.000 đồng cất giấu vào túi quần.
Hành vi của bị cáo Lê Đình H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mục đích tư lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 7.000.000 đồng nên bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đã tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Đình H gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án trong đó có một lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và một lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Lê Đình H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng:
Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với việc tự ý lấy chiếc xe của Trần Đăng C1 đi, H không có mục đích chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
[7] Về án phí:
Bị cáo Lê Đình H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Lê Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Đình H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06-8-2024 - Án phí: Bị cáo Lê Đình H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Đình H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Trần Đăng K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trường |
Bản án số 269/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 269/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
