Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 269/2024/DS-PT

Ngày 04/11/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng

dân sự về vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Lâm Sơn
  • Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Kha
  • Bà Trần Thị Chọn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngọc Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2024/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 257/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Phạm Thị K, sinh năm 1986;
  • Địa chỉ: Tổ E, ấp H, xã S, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
  • Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Lệ H, sinh năm 1977;
  • NKTT: Tổ 05, ấp H, xã S, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
  • Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
  • Người kháng cáo: bà Huỳnh Thị Lệ H - bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án của nguyên đơn bà Phạm Thị K trình bày: Ngày 18/4/2019 (âm lịch) nhằm ngày 22/5/2019 (dương lịch) bà Huỳnh Thị Lệ H có vay của bà Phạm Thị K số tiền 30.000.000đ, có thỏa thuận lãi suất 10 ngày đóng lãi một lần là 1.500.000đ, có làm biên nhận với nhau, bà K xác nhận có nhận tiền lãi của bà H được số tiền 15.000.000đ. Sau đó bà H có trả gốc được số tiền 2.000.000đ, hiện còn nợ lại tiền gốc là 28.000.000đ.

Nay bà yêu cầu bà H trả nợ vay gốc số tiền 28.000.000đ và yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày cho vay là 18/4/2019 (âm lịch) nhằm ngày 22/5/2019 (dương lịch) đến ngày xét xử.

Theo bản tự khai và các lời khai tại Tòa của bị đơn bà Huỳnh Thị Lệ H trình bày: Bà H thừa nhận ngày 18/4/2019 (âm lịch) nhằm ngày 22/5/2019 (dương lịch) có vay của bà Phạm Thị K số tiền 30.000.000đ, có làm biên nhận với nhau, bà thừa nhận nội dung trong biên nhận do chính tay bà ghi, ký, ghi họ tên. Hai bên thỏa thuận lãi 10 ngày đóng lãi một lần là 1.500.000đ, đóng lãi 01 tháng là 4.500.000đ, bà đã đóng lãi cho bà K được số tiền 148.650.000đ. Khi đóng lãi không có làm giấy tờ, biên nhận với bà K, cũng không có ai chứng kiến việc đóng lãi giữa bà và bà K. Bà H yêu cầu Tòa án xem xét đến số tiền lãi bà đã đóng cho bà K số tiền 148.650.000đ.

Quá trình vay bà cũng đã trả gốc cho bà K được số tiền 2.000.000đ, bà thừa nhận còn nợ lại tiền gốc của bà K số tiền 28.000.000đ. Nay bà đang gặp khó khăn về kinh tế, bà xin trả mỗi tháng 300.000đ cho đến khi hết số nợ vay cho bà K.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2024/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Buộc bà Huỳnh Thị Lệ H phải có nghĩa vụ trả nợ vay gốc lãi số tiền là 41.134.400₫ (Trong đó tiền gốc là 28.000.000đ, tiền lãi là: 13.134.400đ) cho bà Phạm Thị K.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm trả và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.

* Đơn kháng cáo ngày 22/7/2024 của bị đơn bà Huỳnh Thị Lệ H yêu cầu Tòa án phúc thẩm xem xét lại việc bà Phạm Thị K và tính lãi cho bà (vay 30.000.000 đồng tiền lãi 150.000 đồng/ 1 ngày) có phù hợp với quy định của pháp luật hay không. Bản án sơ thẩm của TAND huyện Kiên Lương không thừa nhận việc bà trả lãi cho bà K 33 tháng là 148.650.000 đồng do không có người chứng kiến nhưng thừa nhận việc bà K nhận của bà 15.000.000 đồng tiền lãi. Xem xét lại trình tự thủ tục trong quá trình thụ lý giải quyết xét xử của TAND huyện Kiên Lương có đúng theo quy định pháp luật không.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn: Vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không đồng ý nội dung khởi kiện của nguyên đơn.

- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ; ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét nội dung kháng cáo của bà H, Hội đồng xét xử xét việc bà K cho bà H vay tiền với lãi suất của 30.000.000 đồng là 1.500.000 đồng/10 ngày là không phù hợp pháp luật và Tòa án cấp sơ thẩm đã điều chỉnh lại mức lãi suất cho vay theo quy định của pháp luật. Bà H thừa nhận còn nợ tiền vay gốc của bà K 28.000.000 đồng là phù hợp chứng cứ trong hồ sơ (bút lục 03, 05). Nay bà H kháng cáo cho rằng mình đã trả lãi cho bà K số tiền 148.650.000 đồng nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh trong khi bà K không thừa nhận. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận lời thừa nhận của bà K đã nhận số tiền lãi của bà H 15.000.000 đồng và giải quyết khấu trừ số tiền lãi này là phù hợp quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về nghĩa vụ chứng minh. Bà H kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ mới chứng minh số tiền lãi đã trả cho bà K, nên không có cơ sở pháp lý để Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của bà H.

Từ cơ sở nhận định trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận nội dung kháng cáo của bà H, chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát về việc bác nội dung kháng cáo của bà H và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[2] Về án phí dân sự phúc thẩm, bà H phải chịu nộp tiền án phí phúc thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Lệ H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2024/DS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Áp dụng Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị K.
  2. Buộc bà Huỳnh Thị Lệ H phải có nghĩa vụ trả nợ vay gốc và lãi số tiền là 41.134.400 đồng (Trong đó tiền vay gốc là 28.000.000đ, tiền lãi là: 13.134.400₫) cho bà Phạm Thị K.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  1. Về án phí dân sự:
  • Án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu nộp tiền án phí gi á ngạch là 2.056.720 đồng (hai triệu không trăm năm mươi sáu ngàn bảy trăm hai mươi đồng).
  • Nguyên đơn bà K không phải chịu nộp tiền án phí. Hoàn trả cho bà K số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 700.000 đồng theo biên lai thu số 0001848 ngày 28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
  • Án phí dân sự phúc thẩm: Bà H phải chịu nộp tiền án phí phúc thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004070 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Kiên Lương;
  • - CCTHADS huyện Kiên Lương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Lâm Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 269/2024/DS-PT ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản

  • Số bản án: 269/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Kiên kiện bà Hằng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger