|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 269/2024/HS-ST Ngày: 20/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh
Các hội thẩm nhân dân: Ông: Trần Quốc Sơn
Bà: Trần Thị Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuỳ Dung- Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 211/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐXXST- HS ngày 22/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa só 48/2024/QĐST-HPT ngày 16/9/2004 đối với các bị cáo:
1. Đinh Ngọc S. Sinh ngày 20/8/2008 (Khi phạm tội 15 tuổi 06 tháng 27 ngày); Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Xóm T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn L, sinh năm 1968; Con bà: Phạm Thị P, sinh năm 1973. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án số 03/HSST ngày 16/01/2024 của TAND huyện Yên Lập, Phú Thọ áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường G, thời hạn: 15 tháng, về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tài sản trị giá 10.000.000 đồng).
Hiện bị cáo đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại Trường G Ninh Bình theo Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng số 01/2024/QĐ-CA ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
2. Đinh Văn Đ. Sinh ngày 23/02/2007 (Khi phạm tội 17 tuổi 01 tháng 04 ngày); Nơi thường trú: Khu Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn K (đã chết), Con bà: Tô Thị T, sinh năm 1975. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 19/3/2024. Đến ngày 28/3/2024, được hủy bỏ tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị bắt tạm giam ngày 04/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 – Công an thành phố H.
3. Hoàng Thanh B. Sinh ngày 07/01/2007 (Khi phạm tội 17 tuổi 02 tháng 10 ngày); Nơi thường trú: Khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12/; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn N, sinh năm 1978; Con bà: Phùng Thị T1, sinh năm 1985. Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 19/3/2024. Đến ngày 28/3/2024, được hủy bỏ tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị bắt tạm giam ngày 04/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 – Công an thành phố H.
4. Hoàng Anh T2. Sinh ngày 23/02/2008 (Khi phạm tội 16 tuổi 23 ngày); Nơi thường trú: Khu F, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn N1, sinh năm 1987; Con bà: Trần Thị T3, sinh năm 1987. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có. Tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 19/3/2024. Đến ngày 28/3/2024, được hủy bỏ tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị bắt tạm giam ngày 18/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 – Công an thành phố H;
5. Nguyễn Đức T4. Sinh ngày 25/9/2006 (Khi phạm tội khi 17 tuổi 05 tháng 16 ngày); Nơi thường trú: Khu H, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức T5, sinh năm 1980; Con bà: Hà Thị Đ1, sinh năm 1985. Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có. Tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 19/3/2024. Đến ngày 28/3/2024, được hủy bỏ tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.
Người giám hộ của các bị cáo:
- - Người đại diện cho bị cáo Đinh Ngọc S: ông Đinh Văn L, sinh 1968 và bà Phạm Thị P, sinh 1973. Cùng nơi thường trú: Xóm T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ – là bố mẹ đẻ của bị cáo (Vắng mặt).
- - Người đại diện cho bị cáo Hoàng Thanh B: ông Hoàng Văn N, sinh 1978 và bà Phùng Thị T1, sinh 1985. Cùng nơi thường trú: Khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ – là bố mẹ đẻ của bị cáo (Vắng mặt).
- - Người đại diện cho bị cáo Đinh Văn Đ: bà Tô Thị T, sinh 1975. Nơi thường trú: Khu Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ – là mẹ đẻ của bị cáo (Vắng mặt).
- - Người đại diện cho bị cáo Nguyễn Đức T4: ông Nguyễn Đức T5, sinh 1980 và bà Hà Thị Đ1, sinh 1985. Cùng nơi thường trú: Khu H, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ – là bố mẹ đẻ của bị cáo (ông T5 có mặt).
- - Người đại diện cho bị cáo Hoàng Anh T2: ông Hoàng Văn N1, sinh 1987 và bà Trần Thị T3, sinh 1987. Cùng nơi thường trú: Khu F, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ – là bố mẹ đẻ của bị cáo (bà T3 có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo Đinh Ngọc S, Đinh Văn Đ, Nguyễn Đức T4: Ông Nguyễn Quang Á – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Thanh B, Hoàng Anh T2: Bà Nguyễn Thị N2 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Có mặt).
- Bị hại:
- + Anh Nguyễn Bá Anh H, sinh ngày 18/6/2007. Nơi thường trú: Đ, xã Đ, huyện C, Hà Nội. Nơi tạm trú: Trung tâm đào tạo vận động viên cấp cao tại Hà Nội. Người đại diện cho anh H: Bà Nguyễn Thị C – mẹ đẻ anh H. Nơi thường trú: Đ, xã Đ, huyện C, Hà Nội (Anh H và bà C có mặt).
- + Anh Nguyễn Văn N3, sinh 2003. Nơi thường trú: thôn F, xã P, huyện Q, Hà Nội. Nơi tạm trú: Trung tâm đào tạo vận động viên cấp cao tại Hà Nội (Vắng mặt).
- + Chị Nguyễn Thị Vân L1, sinh 2004. Nơi thường trú: Thôn T, xã C, huyện Ứ, Hà Nội. Nơi tạm trú: Trung tâm đào tạo vận động viên cấp cao tại Hà Nội (Vắng mặt).
- + Chị Nguyễn Phương K1, sinh 1999. Nơi thường trú: 173 Phó C, phường F, quận A, TP Hồ Chí Minh. Nơi tạm trú: Trung tâm đào tạo vận động viên cấp cao tại Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 18/3/2024, Tổ công tác Y10- 141 Công an thành phố H làm nhiệm vụ tại ngã tư Hồ T - N phát hiện Hoàng Anh T2 điều khiển xe máy Honda Blade màu đỏ đen không BKS, không có chìa khóa ổ điện, có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong balo của T2 có 02 biển kiểm soát xe máy: 29Y5 – 723.62 và 29Y3 – 692.45. Tại chỗ, T2 khai nhận chiếc xe Honda Blade màu đỏ đen không BKS do T2 cùng Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B trộm cắp ngày 17/3/2024 tại khu vực vận động viên cấp cao trên đường N, phường M, N, Hà Nội nên Tổ công tác đã bàn giao T2 cùng tang vật cho Công an phường C để xác minh, làm rõ.
Cùng ngày 18/3/2024, Cơ quan công an đã tiến hành dẫn giải T2 chỉ vị trí và xác định nhà Đinh Văn Đ tại thôn M, xã Đ, Y, Phú Thọ đã phát hiện Đ và Hoàng Thanh B có mặt tại nhà nên đã đưa về trụ sở để làm rõ.
Quá trình điều tra xác định:
Do không có công việc ổn định nên Đinh Ngọc S rủ Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B và Nguyễn Đức T4 đi xuống Hà Nội để tìm việc làm nhưng do chưa tìm được việc làm, không có tiền nên sau đó S đã rủ cả nhóm đi trộm cắp xe máy làm phương tiện đi lại và bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ nhất:
Khoảng 02 giờ ngày 12/3/2024, Đinh Văn Đ điều khiển xe máy Honda Wave màu cam (không BKS) chở Đinh Ngọc S còn Hoàng Thanh B điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 19H1 – 305.88 (đã tháo BKS) chở Nguyễn Đức T4, cả nhóm đi vòng quanh nhiều tuyến đường tìm người sơ hở để trộm cắp xe máy. Trên đường đi, S nói: “tao biết chỗ này có bãi xe, chỉ cần dắt ra thôi” rồi dẫn cả nhóm đến khu vực sân vận động M. Khi đến điểm dừng xe buýt gần cổng Trung tâm Đào tạo Vận động viên cấp cao trên đường L, thuộc phường M, N, Hà Nội thì B và T4 đứng chờ còn Đ và S đi một vòng ngoài đường bao quanh khu vận động viên kiểm tra thì không thấy có người trông giữ nên quay lại chỗ B và T4 đứng chờ. Lúc này, Đ và B ở lại trông xe và cảnh giới còn S dẫn T4 trèo qua hàng rào vào bên trong khu vực để xe máy của trung tâm đào tạo. Tại đây, S dùng chân đạp vào tay lái để bẻ khóa cổ xe máy Honda Wave màu đỏ đen, BKS: 29X2 – 178.17 của anh Nguyễn Bá Anh H (Sinh ngày: 18/6/2007; HKTT: Đông Phương Y, C, Hà Nội) và xe máy Honda Wave màu trắng, BKS: 29V7 – 494.78 của anh Nguyễn Văn N3 (Sinh năm: 2003, HKTT: P, Q, Hà Nội), sau đó cả hai dắt 02 chiếc xe trộm cắp được về chỗ B và Đ đứng đợi. Cả nhóm sau đó di chuyển đến khu vực ngã tư L - T thì dừng lại, S lấy tô vít trong cốp xe của B mở mặt nạ xe máy BKS: 29X2 – 178.17 đấu dây điện đề nổ máy rồi cùng T4 tháo biển số xe trộm cắp được và cả nhóm tiếp tục di chuyển về phía hồ điều hòa M, Cầu G, Hà Nội thì vứt lại biển số xe vừa tháo rồi cùng nhau đi về Phú Thọ. Sỹ sau đó đem chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ đen (BKS: 29X2 – 178.17) trộm cắp được cất giấu tại nhà của S, còn T4 đem chiếc xe máy Honda Wave màu trắng (BKS: 29V7 – 494.78) cất giấu tại nhà của T4. Đến ngày 15/3/2024 thì Đinh Ngọc S bị Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Y, Phú Thọ bắt đưa đi chấp hành biện pháp đưa vào Trường G – Bộ C2.
Vụ thứ hai:
Do không có xe làm phương tiện đi lại, nên ngày 16/3/2024 Đ rủ B và Hoàng Anh T2 đến Trung tâm Đ4 cấp cao để trộm cắp xe máy. Khoảng 19 giờ cùng ngày, B điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh không biển kiểm soát (đã tháo BKS: 19H1 – 305.88) chở Đ đi từ Phú Thọ xuống Hà Nội gặp T2. Sau đó, cả ba cùng nhau đến chơi điện tử tại số A P, phường M, N, Hà Nội. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/3/2024, cả ba gửi xe máy tại quán điện tử rồi cùng nhau đi bộ đến Trung tâm đào tạo Vận động viên cấp cao và trèo qua hàng rào đi vào bên trong khu vực để xe máy của trung tâm. Tại đây, Đ dùng chân đạp vào tay lái bẻ khóa cổ chiếc xe máy Honda Wave màu xanh-đen-bạc, BKS: 29Y3- 692.45 của chị Nguyễn Thị Vân L1 (sinh năm: 2004, HKTT: C, Ứ, Hà Nội) còn T2 và B cùng nhau dùng chân đạp vào tay lái và bẻ khóa cổ chiếc xe máy Honda Blade màu đỏ đen, BKS: 29Y5 - 723.62 của chị Nguyễn Phương K1 (Sinh năm: 1999, HKTT: phường F, quận A, TP .). Sau khi bẻ được khóa cổ xe, Đ và T2 dùng thanh kim loại chữ L chuẩn bị sẵn từ trước để phá khóa cổng của trung tâm rồi cùng nhau dắt xe trộm cắp được ra ngoài đường. Cả nhóm dắt xe đi được khoảng 100m thì dừng lại để Đ đấu điện và đề nổ xe máy BKS: 29Y3- 692.45 còn B cũng đấu điện đề nổ xe máy BKS: 29Y5 - 723.62 rồi cả ba tiếp tục di chuyển về khu vực nghĩa trang P1, phường M, N, Hà Nội thì dừng lại tháo biển số xe của 2 chiếc xe trộm cắp được cho vào trong balo của T2 sau đó cùng nhau đi về quán điện tử để lấy xe máy của B và đi về Phú Thọ cất giấu xe trộm cắp được tại nhà của Đường.
Đến khoảng 13 giờ ngày 18/3/2024, Đ, B, T2 và T4 rủ nhau xuống Hà Nội chơi. T4 sau đó điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng, T2 điều khiển xe Honda Blade màu đỏ đen đã trộm cắp được và mang theo balo trong có 02 biển kiểm soát: 29Y5 – 723.62 và 29Y3 – 692.45, Đ điều khiển xe Honda Wave màu xanh đen bạc đã trộm cắp được trước đó còn B điều khiển xe Honda Wave màu xanh (không có BKS) đi xuống Hà Nội. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi T2 đi đến khu vực ngã tư Hồ T - N thì bị Tổ công tác Y10- 141 Công an thành phố H làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện bắt giữ cùng tang vật đã trộm cắp được.
Ngày 19/3/2024, Nguyễn Đức T4 đến cơ quan Công an đầu thú.
Ngày 19/3, 21/3 và 13/7/2024, chị Nguyễn Thị Vân L1, Nguyễn Phương K1, anh Nguyễn Văn N3 và Nguyễn Bá A H đã đến Công an quận N trình báo sự việc.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Anh T2, Đinh Ngọc S, Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B và Nguyễn Đức T4 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Vật chứng thu giữ:
01 chiếc xe máy Honda Blade màu đỏ đen, không BKS số khung: RLHJA3678MY002755, số máy: JA36E-1022189 và 02 biển kiểm soát: 29Y5 -723.62 và 29Y3 - 692.45 (thu giữ của Hoàng Anh T2); 01 xe máy Honda Wave màu xanh-đen-bạc (số khung RLHJA3926NY250732, số máy JA39E2747665) do Đinh Văn Đ giao nộp; 01 xe máy Honda Wave màu trắng, không BKS, số khung: RLHJA3919LY031381, số máy JA39E-1365823 (do Nguyễn Đức T4 giao nộp); 01 xe máy Honda Wave màu đỏ - đen, số khung: RLHJA 3923 PY740922, số máy JA39E – 3202122 (do ông Đinh Văn L - là bố của S giao nộp).
Tại Kết luận định giá tài sản số 98 ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND quận N, kết luận:
- - 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh-đen-bạc, BKS: 29Y3- 692.45, số khung: RLHJA3926NY250732, số máy: JA39E-2747665 trị giá 14.000.000 đồng.
- - 01 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, BKS: 29V7 - 494.78, số khung: RLHJA3919LY031381, số máy: JA39E-1365823 trị giá 9.000.000 đồng.
- - 01 chiếc xe máy Honda Blade màu đỏ-đen, BKS: 29Y5 - 723.62, số khung: RLHJA3678MY002755, số máy: JA36E-1022189 trị giá 12.000.000 đồng
- - 01 chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ, không mang BKS, số khung: RLHJA3923PY740922, số máy: JA39E-3202122, trị giá 9.500.000 đồng.
Quá trình điều tra xác minh, xác định:
Chiếc xe máy Honda Blade màu đỏ đen, số khung: RLHJA3678MY002755, số máy: JA36E-1022189 có BKS: 29Y5 - 723.62 là tài sản của chị Nguyễn Phương K1 mua và nhờ anh Phạm Văn Đ2 (Sinh năm: 1999, HKTT: xã T, T, Hà Nội) đứng tên đăng ký. Xe có số khung, số máy nguyên thủy, xe không có trong dữ liệu xe vật chứng.
Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh-đen-bạc, số khung: RLHJA3926NY250732, số máy: JA39E-2747665 có BKS: 29Y3-692.45, là của chị Nguyễn Thị Vân L1 đứng tên đăng ký. Xe có số khung, số máy nguyên thủy, xe không có trong dữ liệu xe vật chứng.
Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, số khung: RLHJA3919LY031381, số máy: JA39E-1365823 có BKS: 29V7 - 494.78, là của anh Nguyễn Văn N3 đứng tên đăng ký. Xe có số khung, số máy nguyên thủy, xe không có trong dữ liệu xe vật chứng.
Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, số khung: RLHJA3923PY740922, số máy: JA39E-3202122 có BKS: 29X2-178.17, có BKS: 29X2-178.17 là của anh Nguyễn Bá Anh H đứng tên đăng ký. Xe có số khung, số máy nguyên thủy, xe không có trong dữ liệu xe vật chứng.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam (không BKS) do Đinh Văn Đ điều khiển đi trộm cắp tài sản ngày 12/3/2024, qua điều tra xác định là xe do bà Tô Thị T (SN: 1975, HKTT: xã Đ, Y, Phú Thọ - là mẹ của Đinh văn Đ) mượn của một người không quen biết ở chỗ làm thuê, để đi lại. Bà T không biết Đ đã sử dụng chiếc xe máy trên đi trộm cắp tài sản. Ngày 13/3/2024, bà T đã đem trả chiếc xe máy trên cho chủ xe.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh do Hoàng Thanh B điều khiển đi trộm cắp tài sản, qua điều tra xác định xe có BKS: 19H1- 305.88 là tài sản của chị Phùng Thị T1 (SN: 1985- NKTT: M, Y, Phú Thọ - là mẹ đẻ của Hoàng Thanh B) đứng tên đăng ký xe. Ngày 10/3/2024, chị T1 cho B mượn xe để đi làm, chị T1 không biết B đã sử dụng chiếc xe máy trên làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để thu giữ và xử lý.
Ngày 24/7/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả cho chị Nguyễn Thị V Liên chiếc xe máy Honda Wave, BKS: 29Y3- 692.45, chị Nguyễn Phương K1 chiếc xe máy Honda Blade màu đỏ - đen, BKS: 29Y5 - 723.62, anh Nguyễn Văn N3 chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, BKS: 29V7 - 494.78 và trao trả cho anh Nguyễn Bá A H chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ, BKS: 29X2-178.17.
Về dân sự:
Chị Nguyễn Thị Vân L1, Nguyễn Phương K1, anh Nguyễn Văn N3 và anh Nguyễn Bá Anh H không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Bị cáo Hoàng Anh T2 sau khi được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 28/3/2024. Ngày 29/3/2024, T2 có hành vi mượn chiếc xe máy Honda Wave, BKS: 19D-180.74 của anh Phùng Văn C1 (Sinh năm: 1994, HKTT: Thu Cúc, T, Phú Thọ) sau đó không trả lại xe và bỏ trốn. Hiện Công an xã T, T, Phú Thọ đang xác minh giải quyết theo đơn trình báo ngày 01/4/2024 của anh C1.
Lời khai nhận tội của Đinh Ngọc S, Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B, Hoàng Anh T2 và Nguyễn Đức T4 là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.
Bản cáo trạng số 208/CT-VKS ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo Hoàng Anh T2, Hoàng Thanh B, Đinh Văn Đ, Nguyễn Đức T4 và Đinh Ngọc S về tội: Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự:
- Đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Ngọc S từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- + Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự
- Đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- + Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Thanh B từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- + Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật hình sự:
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T4 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
- Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- + Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Anh T2 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
- Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về dân sự:
Chị Nguyễn Thị Vân L1, chị Nguyễn Phương K1, anh Nguyễn Văn N3 và anh Nguyễn Bá Anh H đã nhận lại tài sản và đều không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không đề cập.
Xử lý vật chứng:
Không.
Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Thanh B và bị cáo Hoàng Anh T2.
- Bà Nguyễn Thị N2 trình bày quan điểm:
Về phần tội danh:
Nhận thấy tội danh: “ Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ:
Nhận thấy tội danh “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS là có cơ sở, phù hợp với toàn bộ chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, cũng như qua lời khai của các bị cáo và người liên quan trong phiên tòa, vì vậy tôi không có ý kiến phản đối quan điểm của vị đại diện viện kiểm sát về tội danh dành cho hai bị cáo.
Tuy nhiên, về mức hình phạt kính mong HĐXX xem xét cho bị cáo Hoàng Anh T2 và Hoàng Thanh B được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS sau đây:
Thứ nhất,
trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa này hôm nay bị cáo đã hoàn toàn thành khẩn tự giác khai báo chi tiết về hành vi phạm tội của mình, không quanh co chối tội, lời khai luôn thống nhất, đầy đủ và đúng sự thật những nội dung liên quan đến hành vi phạm tội mà bị cáo và các đồng phạm đã thực hiện. Điều này cho thấy bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm của mình, thể hiện sự ăn năn hối cải, khả năng có thể cải tạo của bản thân và mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Thứ hai:
Trong vụ án này, hành vi phạm tội của hai bị cáo cùng các đồng phạm đã rõ ràng, hai bị cáo và các đồng phạm đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác mang đi bán chiếm đoạt tổng số tiền 44.500.000đ. Hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, cả hai bị cáo đều là người chưa thành niên, cộng với trình độ văn hóa thấp nên khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật còn rất nhiều hạn chế, các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định dẫn tới không có tiền chi tiêu sinh hoạt nên đã dẫn tới con đường thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo là các thanh niên còn trẻ, còn nhiều bồng bột nhất thời, đã không lường trước được hậu quả do hành vi của mình gây ra dẫn tới phải đứng trước phiên tòa ngày hôm nay. Cả hai bị cáo Hoàng Anh T2 và Hoàng Thanh B đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình các bị cáo đều chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của nhà nước. Hai bị cáo đều có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, hai bị cáo Hoàng Anh T2 và Hoàng Thanh B là người dân tộc thiểu số, là lao động chính trong gia đình.
Thứ Ba:
Về tài sản trong vụ án đã được tịch thu trao trả lại cho gia đình các bị hại, bị hại không có yêu cầu bồi thường về dân sự....
Pháp luật rất nghiêm minh trừng trị những người có hành vi vi phạm pháp luật nhưng cũng khoan dung đối với những người có hoàn cảnh khó khăn, sớm nhận ra sai lầm, ăn năn hối cải, đặc biệt là đối với các đối tượng chính sách trong xã hội. Do đó, tôi đề nghị HĐXX xem xét cân nhắc một cách toàn diện về hành vi phạm tội, nguyên nhân, hậu quả cũng như hoàn cảnh nhân thân của hai bị cáo. Tôi kính đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173 BLHS; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Hoàng Thanh B, điểm I, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Hoàng Anh T2, Điều 38 BLHS, Điều 90,91 BLHS tuyên phạt bị cáo Hoàng Thanh B với mức án thấp nhất tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cũng như ra một bản án công tâm, đúng người đúng tội, đúng pháp luật và thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước đối với các đối tượng chính sách trong xã hội.Đối với bị cáo Hoàng Anh T2 được hưởng án treo.
Người bào chữa cho các bị cáo Đinh Văn Đ, Nguyễn Đức T4 và Đinh Ngọc S.
Ông Nguyễn Quang Á trình bày quan điểm:
Về phần tội danh:
Nhận thấy tội danh: “ Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ:
Về hình phạt:
Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Đinh Văn Đ, Nguyễn Đức T4 và Đinh Ngọc S bởi vì các lý do sau đây:
Thứ nhất:
Trong vụ án này, hành vi phạm tội của các bị cáo Đinh văn Đ, Nguyễn Đức T4, Đinh Ngọc S đã rõ ràng, khoảng dầu tháng 3/2024, do không có công việc ổn định nên Đinh Ngọc S rủ Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B và Nguyễn Đức T4 đi xuống hà Nội để tìm việc làm nhưng do chưa tìm được việc làm, không có tiền nên sau đó S đã rủ Đ, B, T4, sau đó Đ rủ B và Hoàng Anh T2 đi trộm cắp xe máy làm phương tiện đi lại và bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vụ thứ nhất vào khoảng 02h ngày 12/3/2024 tại Trung tâm Đ4 cấp cao trên đường L, thuộc phường M, N, Hà Nội, Đinh Ngọc S, Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B và Nguyễn Đức T4 đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ đen, BKS: 29X2 - 178.17 trị giá 9.5000.000 đồng của anh Nguyễn Bá A H và trộm cắp chiếc Honda Wave màu trắng, BKS: 29V7 - 494.78 trị giá 9.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn N3. Tổng trị giá tài sản là 18.500.000 đồng. Vật chứng đã thu hồi và trả bị hại. Anh H và anh N3 không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Vụ thứ hai, khoảng 01h 30 phút ngày 17/3/2024, tại Trung tâm Đ4 cấp cao trên đường L, phường M, quận N, Hà Nội, Đinh Văn Đ cùng Hoàng Thanh B và Hoàng Anh T2 đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda Wave màu xanh-đen-bạc, BKS: 29Y3 - 692.45 trị giá 14.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị V L1 và trộm cắp chiếc xe máy Honda Blade màu đỏ đen, BKS: 29Y5 - 723.62 trị giá 12.000.000 đồng của chị Nguyễn Phương K1. Tổng trị giá tài sản đã trộm cắp là 26.000.000 đồng. Vật chứng đã thu hồi trả lại bị hại. Chị L1 và chị K1 không có yêu cầu bồi thường về dân sự. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản được pháp luật quy định, tuy nhiên khi phạm tội ba bị cáo là người chưa thành niên, bị cáo Đinh Văn Đ mới 17 tuổi 1 tháng 04 ngày, bị cáo Nguyễn Đức T4 17 tuổi 05 tháng 16 ngày, bị cáo Đinh Ngọc S 17 tuổi 06 tháng 21 ngày cộng với trình độ văn hóa thấp nên khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật nói chung đặc biệt là về pháp luật hình sự còn rất nhiều hạn chế. Các bị cáo đang ở lứa tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, còn nhiều bồng bột nhất thời, các bị cáo đã không lường trước được hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật do mình gây ra.
Thứ hai:
Tại phiên tòa ngày hôm nay cũng như trong toàn bộ hồ sơ vụ án, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khai báo trung thực rõ ràng phù hợp khách quan với tài liệu chứng cứ khác thu tập được trong quá trình điều tra. Các bị cáo đã hoàn toàn nhận thức được tính nguy hiểm do hành vi của mình gây ra, rất ân hận và mong muốn được sửa chữa sai lầm cũng như nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Thứ ba:
Nhân thân gia đình các bị cáo Đ, T4, S đều là gia đình có hoàn cảnh có khó khăn. Bị cáo T4 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo T4 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Cả ba bị cáo Đ, T4, S thực hiện hành vi phạm tội trong ở tuổi vị thành niên. Trong vụ án này, lỗi chính thuộc về các bị cáo, song có thể nói một phần lỗi thuộc về bản thân gia đình bố mẹ bị cáo, chưa thực sự quan tâm sát sao con em của mình, thiếu giám sát quản lý con. Hy vọng là các bị cáo và gia đình bị cáo cũng như các gia đình khác có con em đang trong lứa tuổi vị thành niên cần chú ý quan tâm đến con em của mình hơn nữa.
Pháp luật rất nghiêm minh trừng trị những người có hành vi vi phạm pháp luật nhưng cũng khoan dung đối với những người sớm nhận ra sai lầm, ăn năn hối cải, đặc biệt là đối với các đối tượng khi phạm tội ở tuổi vị thành niên. Do đó, tôi đề nghị HĐXX xem xét cân nhắc một cách toàn diện về hành vi phạm tội, nguyên nhân, hậu quả cũng như hoàn cảnh nhân thân của bị cáo. Tôi kính đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173 BLHS; Các nguyên tắc xử lý đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội theo Điều 90, 91 BLHS; Điều 101 BLHS; Điều 38; Điều 65; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, tuyên phạt bị cáo Đinh Văn Đ và Đinh Ngọc S với mức án thấp nhất; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đức T4 với mức án thấp nhất cho bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cũng như ra một bản án công tâm, đúng người đúng tội, đúng pháp luật và thể hiện chính sách khoan hồng của Đ3 và nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đều đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận:
Khoảng đầu tháng 3/2024, do không có việc làm nên Đinh Ngọc S, Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B và Nguyễn Đức T4 đã rủ nhau xuống Hà Nội để tìm việc làm nhưng do chưa tìm được việc làm, không có tiền nên S đã rủ Đ, B và T4 và sau đó Đ đã rủ B và Hoàng Anh T2 đi trộm cắp xe máy làm phương tiện đi lại và bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 02 giờ ngày 12/3/2024, tại Trung tâm Đ4 cấp cao trên đường L, thuộc phường M, N, Hà Nội, Đinh Ngọc S, Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B và Nguyễn Đức T4 đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda Wave màu đỏ đen, BKS: 29X2 – 178.17 trị giá 9.500.000 đồng của anh Nguyễn Bá A H và trộm cắp chiếc xe máy Honda Wave màu trắng, BKS: 29V7 – 494.78 trị giá 9.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn N3. Tổng trị giá tài sản là 18.500.000 đồng. Vật chứng đã thu hồi trả bị hại. Anh H và anh N3 không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Vụ thứ hai:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/3/2024, tại Trung tâm Đ4 cấp cao trên đường L, thuộc phường M, N, Hà Nội, Đinh Văn Đ cùng Hoàng Thanh B và Hoàng Anh T2 đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda Wave màu xanh-đen-bạc, BKS: 29Y3- 692.45 trị giá 14.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Vân L1 và trộm cắp chiếc xe máy Honda Blade màu đỏ đen, BKS: 29Y5 - 723.62 trị giá 12.000.000 đồng của chị Nguyễn Phương K1. Tổng trị giá tài sản đã trộm cắp là 26.000.000 đồng. Vật chứng đã thu hồi trả bị hại. Chị L1 và chị K1 không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Đinh Ngọc S, Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B, Hoàng Anh T2 và Nguyễn Đức T4 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 173 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Đinh Văn Đ và Hoàng Thanh B phạm tội 02 trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà:
Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình gây ra nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đinh Ngọc S có nhân thân xấu: Bản án số 03/HSST ngày 16/01/2024 của TAND huyện Yên Lập, Phú Thọ áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường G, thời hạn: 15 tháng, về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tài sản trị giá 10.000.000 đồng). Các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo T4 sau khi phạm tội ra đầu thú được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội, xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người bị hại để trộm cắp tài sản để phục vụ nhu cầu cá nhân của các bị cáo. Do vậy các bị cáo phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi của các bị cáo gây ra. Cần thiết phải cách ly các bị cáo Đinh Ngọc S, Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B và Hoàng Anh T2 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Các bị cáo khi phạm tội đều ở độ tuổi vị thành niên nên được áp dụng các quy định đối với người chưa thành niên theo Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự.
Xét vai trò đối với các bị cáo, HĐXX thấy rằng. Các bị cáo là đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên bị cáo Đinh Ngọc S là người khởi xướng rủ các bị khác đi trộm cắp tài sản nên bị cáo có vai trò đầu vụ trong vụ án. Các bị cáo khác có mức án tương ứng với hành vi của các bị cáo gây ra. Do vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo Nguyễn Đức T4 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51. Do vậy không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương theo Điều 65 cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và đều không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Không
[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định tại Điều 21, 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Đinh Ngọc S, Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B, Hoàng Anh T2 và Nguyễn Đức T4 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc S 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2024. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/3/2024 đến ngày 28/3/2024.
- Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh B 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2024 . Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/3/2024 đến ngày 28/3/2024.
- Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Anh T2 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2024. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/3/2024 đến ngày 28/3/2024.
- Áp dụng: khoản 1, Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T4 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về dân sự: Chị Nguyễn Thị Vân L1, chị Nguyễn Phương K1, anh Nguyễn Văn N3 và anh Nguyễn Bá A H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
- Vật chứng: Không.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Đinh Ngọc S, Đinh Văn Đ, Hoàng Thanh B, Hoàng Anh T2 và Nguyễn Đức T4, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đông (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Các bị cáo, người đại diện cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại, người đại diện cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người đại diện cho các bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Kim Thanh |
Bản án số 269/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 269/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn S và đồng phạm phạm tội " Trộm cắp tài sản" theo khoản 1, Điều 173
