Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 269/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16/9/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt

Ông Đặng Thiên Hùng

Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 16/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 193/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/7/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 205/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 175/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/8/2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Ngọc M, sinh năm 1997 (xin vắng mặt)

    Địa chỉ: thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang

  • * Bị đơn: Anh Hoàng Văn P, sinh năm 1989 (vắng mặt)

    Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh P tại Việt Nam: thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Anh P hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1962 (xin vắng mặt)

    Địa chỉ: thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  • * Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Hoàng Thị Ngọc M trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn P kết hôn với nhau ngày 03/7/2014, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L. Năm 2022, anh P đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Tuy nhiên hiện nay giữa vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân với nhau, không còn liên lạc và không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Hoàng Văn P được ly hôn.

  • - Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Trung K, sinh ngày 18/4/2015 và cháu Hoàng Trung H, sinh ngày 02/11/2019. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu Hoàng Trung K cho chị nuôi dưỡng; giao cháu Hoàng Trung H cho anh Hoàng Văn P nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị P1 nuôi dưỡng trong thời gian anh P ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

  • * Bị đơn là anh Hoàng Văn P hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh P đến nay không nhận được thông tin của anh P.

  • * Bà Nguyễn Thị P1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Hoàng Văn P, anh P hiện đang lao động tại nước ngoài. Bà vẫn thường xuyên liên hệ với anh P qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của anh P ở nước ngoài. Bà đã thông báo cho anh P về việc chị M đề nghị ly hôn nhưng anh P không về nước làm việc được. Vợ chồng anh P và chị M có 02 con chung là cháu Hoàng Trung K, sinh ngày 18/4/2015 và cháu Hoàng Trung H, sinh ngày 02/11/2019. Khi Tòa án giải quyết việc vụ án, bà đề nghị Tòa án giao cháu Hoàng Trung K cho chị M nuôi dưỡng và giao cháu Hoàng Trung H cho anh P nuôi dưỡng, tạm giao cháu H cho bà chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian anh P ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng nuôi các cháu gia đình tự thống nhất nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

  • * Tòa án đã làm việc với cháu Hoàng Trung K, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

  • * Tại phiên tòa sơ thẩm, chị M xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh P vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

  • * Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Ngọc M. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Ngọc M được ly hôn anh Hoàng Văn P.

Về con chung: Giao Hoàng Trung Kiên cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Hoàng Trung H cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị P1 nuôi dưỡng trong thời gian anh P ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Hoàng Thị Ngọc M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị Ngọc M có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Hoàng Văn P. Bị đơn anh Hoàng Văn P có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 16583/QLXNC-P3 ngày 25/7/2024 của Cục Q - Bộ C thì anh Hoàng Văn P đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 25/5/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Hoàng Văn P được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị M và bà P1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị P1 là mẹ đẻ của anh P xác định hiện anh P đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh P ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh P theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Ngọc M và anh Hoàng Văn P kết hôn với nhau ngày 03/7/2014 và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh P. Xem xét đơn khởi kiện của chị M, HĐXX thấy: Chị M xác định đến nay chị M và anh P đã không còn quan tâm gì nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Anh P hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, chị M xác định không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn với anh P.

[4]. Về con chung: Chị M và anh P có 02 con chung là cháu Hoàng Trung K, sinh ngày 18/4/2015 và cháu Hoàng Trung H, sinh ngày 02/11/2019. Chị M có ý kiến đề nghị được nuôi dưỡng cháu K và giao cháu H cho anh P và bà P1 chăm sóc nuôi dưỡng; bà P1 có ý kiến đồng ý nuôi dưỡng cháu H thay anh P trong thời gian anh P ở nước ngoài. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu K. Giao cho anh P được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu H nhưng tạm giao cháu H cho bà P1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh P ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị M không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Hoàng Thị Ngọc M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Ngọc M.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Ngọc M được ly hôn anh Hoàng Văn P.

  2. Về con chung: Giao Hoàng Trung K, sinh ngày 18/4/2015 cho chị Hoàng Thị Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Giao cháu Hoàng Trung H, sinh ngày 02/11/2019 cho anh Hoàng Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị P1 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H cho đến khi anh Hoàng Văn P về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Về việc cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Ngọc M phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001372 ngày 10/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

  4. Về quyền kháng cáo:

    • - Anh Hoàng Văn P hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    • - Chị Hoàng Thị Ngọc M và bà Nguyễn Thị P1 cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 269/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 269/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai ly hôn Phúc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger