Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 269/2023/DS-PT

Ngày: 05/12/2023

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Khưu Để Dành;
  2. Ông Phạm Tấn Tài.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 286/2023/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do có kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 181/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 308/2023/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Trần Thị Bàn H, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số A, Tổ10, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: bà Phùng Thị N, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số C, Tổ11, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Võ Hoàng T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số C, Tổ11, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người kháng cáo: bà Phùng Thị N kháng cáo, những người tham gia tố tụng trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm nguyên đơn bà Trần Thị Bàn H trình bày;

2

Từ chỗ quen biết với vợ chồng ông T, bà N; nên bà có cho bà N vay tiền để mua đất, xây nhà với tổng số tiền 750.000.000 đồng theo 03 biên nhận nợ đó là: biên nhận ngày 19/9/2020 vay số tiền 560.192.000 đồng; biên nhận ngày 27/11/2020 vay số tiền 90.000.000 đồng; biên nhận ngày 12/11/2020 vay số tiền 100.000.000 đồng.

Khi vay tiền bà, vợ chồng bà N, ông T hứa với trong vòng 06 tháng sẽ trả lại, nhưng đến hạn mà bà N, ông T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà, bà có liên hệ vợ chồng bà N, ông T nhưng vợ chồng bà N, ông T cố tình lẩn tránh. Bà H khởi kiện bà yêu cầu bà N và ông T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền vay trong ba biên nhận nợ là 750.000.000 đồng, bà không yêu cầu số tiền 192.000 đồng, bà H rút yêu cầu khởi kiện không yêu cầu bà N trả cho bà 50.000.000 đồng nên còn lại 700.000.000 đồng, nay bà yêu cầu bà N và ông T liên đới trả cho bà số tiền vay là 700.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 15/11/2022 cho đến khi xét xử sơ thẩm. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là 03 biên nhận nợ.

- Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, bị đơn bà Phùng Thị N trình bày:

Bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà H, vì bà không có nợ bà H số tiền nào cả, thời gian trước bà có mượn tiền của bà H để làm ăn nhưng sau đó đã trả xong hết nên không còn nợ.

- Tại Tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Hoàng T trình bày:

Ông không biết số nợ mà vợ ông là bà N vay của bà H, thời gian trước vợ chồng ông có mượn tiền của bà H để làm ăn nhưng sau đó đã trả xong hết nên không còn nợ, đối với số nợ này ông hoàn toàn không biết.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bà N, ông T không thừa nhận việc vay tiền bà H, bà N không thừa nhận chữ viết của bà tại các biên nhận vay tiền của bà H, bà N, ông T không có yêu cầu giám định chữ viết, bà H xác định chính bà N viết 03 biên nhận vay tiền của bà, nên bà H yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký của bà N tại 03 biênvay tiền; Tại Kết luận giám định số 91 ngày 21/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, xác định “Chữtrên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 đến A3) so với chữ viết trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2, M3 trang 1) và chữ viết mang tên Phùng Thị N trên tài liệu mẫu so sánh (M4 đến M11) do cùng một người viết ra”.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 181/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26, 35, 39, 144, 147, 217, 218, 235, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày

3

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bàn H.
  2. - Buộc bà Phùng Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Bàn H số tiền vốn vay 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi 58.722.000 đồng (năm mươi tám triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng). Tổng cộng vốn và lãi là 758.722.000 đồng (bảy trăm năm mươi tám triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng).

    - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bàn H yêu cầu bà Phùng Thị N trả cho bà số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

    - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bàn H khởi kiện yêu cầu ông Võ Hoàng T cùng có nghĩa vụ liên đới với bà Phùng Thị N để trả cho bà số tiền 758.722.000 đồng (bảy trăm năm mươi tám triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng).

    - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 13/9/2023 bị đơn bà Phùng Thị N kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, những người tham gia tố tụng trong vụ án ông T, bà H không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm;

Bà N xác định giữ nguyên kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, theo đó bà N xác định không cung cấp thêm chứng cứ mới, bà cho rằng bà không viết 03 biên nhận (biên nhận ngày 19/9/2020 vay số tiền 560.192.000 đồng; biên nhận ngày 27/11/2020 vay số tiền 90.000.000 đồng; biên nhận ngày 12/11/2020 vay số tiền 100.000.000 đồng) để vay tiền của bà H, bà không có ý kiến đối với kết luận giám định, bà cho rằng đã trả nợ xong không còn nợ bà H, nên đề nghị Tòa án xét xử theo pháp luật.

Bà H xác định bà N là người viết 03 biên nhận vay tiền (biên nhận ngày 19/9/2020 vay số tiền 560.192.000 đồng; biên nhận ngày 27/11/2020 vay số tiền 90.000.000 đồng; biên nhận ngày 12/11/2020 vay số tiền 100.000.000 đồng) để vay tiền của bà H, kết quả giám định chữ viết bà N tại 03 biênnhận nợ nêu trên

4

đã chứng minh biên nhận nợ do bà N viết, nên đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm:

- Việc tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, người tham gia tố tụng thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: căn cứ các tài liệu chứng cứ tại hồ sơ, kết quả tranh luận tại phiên tòa, đối chiếu quy định pháp luật thì thấy; Tuy bà N xác định có vay tiền bà H nhưng đã trả xong nhưng bà N không có chứng cứ chứng minh đã trả nợ cho bà H, bà H xác định bà N không trả tiền gì cho bà, bà N cho rằng không viết 03 biên nhận nợ, nhưng tại Kết luận giám định số 91 ngày 21/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, xác định “Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 đến A3) so với chữ viết trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2, M3 trang 1) và chữ viết mang tên Phùng Thị N trên tài liệu mẫu so sánh (M4 đến M11) do cùng một người viết ra” là bà N, nên ông T không có nghĩa vụ trả nợ cho bà H là phù hợp.

Do đó, Tòa sơ thẩm buộc cá nhân bà N trả cho bà H số tiền vốn vay 700.000.000 đồng và tiền lãi 58.722.000 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 758.722.000 đồng; Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bàn H yêu cầu bà Phùng Thị N trả cho bà số tiền 50.000.000 đồng; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bàn H khởi kiện yêu cầu ông Võ Hoàng T cùng có nghĩa vụ liên đới với bà Phùng Thị N để trả cho bà H số tiền 758.722.000 đồng, buộc bà N chịu án phí sơ thẩm theo quy định là có căn cứ, đúng pháp luật. Bà N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, nên không có căn cứ chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 phúc xử; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 181/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, buộc bà N chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án; Kết quả thẩm tra tại phiên tòa; Kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy;

[1] Về tố tụng:

Tòa sơ thẩm tuyên án ngày 13/9/2023; ngày 13/9/2023 bà N kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định, kháng cáo của bà N là hợp lệ, nên đủ căn cứ xem xét kháng cáo của bà N theo trình tự phúc thẩm. Bà H, ông T không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới không kháng nghị.

[2] Về nội dung:

5

Bà H khởi kiện, yêu cầu bà N và ông T trả cho bà 750.000.000 đồng, chứng cứ chứng minh cho việc khởi kiện là 03 biênnhận (biên nhận ngày 19/9/2020 vay số tiền 560.192.000 đồng; biên nhận ngày 27/11/2020 vay số tiền 90.000.000 đồng; biên nhận ngày 12/11/2020 vay số tiền 100.000.000 đồng) do bà N viết để vay tiền của bà tổng số tiền 750.000.000 đồng nhưng vợ chồng bà N không trả, trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm bà H xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện số tiền 50.000.000 đồng đối với bà N, vì trong thời gian vay thì bà N có trả được cho bà số tiền 50.000.000 đồng, nay bà chỉ yêu cầu bà N và ông T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền 700.000.000 đồng và lãi xuất theo pháp luật từ ngày 15/11/2022 đến ngày 13/9/2023 (ngày xét xử sơ thẩm), ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Bà N và ông T thừa nhận trước có quan hệ mượn tiền bà H để làm kinh tế, nhưng đã trả xong, không còn nợ tiền bà H, theo đó bà N cho rằng bà không viết 03 biênvay tiền (biên nhận ngày 19/9/2020 vay số tiền 560.192.000 đồng; biên nhận ngày 27/11/2020 vay số tiền 90.000.000 đồng; biên nhận ngày 12/11/2020 vay số tiền 100.000.000 đồng) để vay tiền của bà H, nhưng bà N lại không yêu cầu giám định, không cung cấp chứng cứ đã trả xong số tiền 700.000.000 cho bà H; bà H thì xác định, bà N là người trực tiếp viết 03 biên nhận vay tiền và nhận tiền tại nhà của bà (biên nhận ngày 19/9/2020 vay số tiền 560.192.000 đồng; biên nhận ngày 27/11/2020 vay số tiền 90.000.000 đồng; biên nhận ngày 12/11/2020 vay số tiền 100.000.000 đồng) để vay tiền của bà 750.000.000 đồng (đã trả được 50.000.000 đồng), nên bà H yêu cầu giám định chữ viết của bà N tại 03 biênvay tiền nêu trên để chứng minh việc bà N viết biênnhận vay tiền của bà là có thật.

Tại Kết luận giám định số 91 ngày 21/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, xác định “Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 đến A3) so với chữ viết trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2, M3 trang 1) và chữ viết mang tên Phùng Thị N trên tài liệu mẫu so sánh (M4 đến M11) do cùng một người viết ra”, từ đây đủ căn cứ xác định bà N đã vay tiền của bà H 750.000.000 đồng (đã trả được 50.000.000 đồng) là có trong thực tế, bà N không chứng minh được việc bà N đã dùng số tiền 700.000.000 đồng vào việc phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình và đã trả xong số tiền 700.000.000 đồng cho bà H, nên cá nhân bà N phải có trách nhiệm trả tiền vốn và lãi suất theo quy định đối với số tiền 700.000.000 đồng là phù hợp pháp luật.

Do đó, Tòa sơ thẩm áp dụng mức lãi suất 10%/năm, thời gian tính lãi là 302 ngày (từ ngày 15/11/2022 đến ngày 13/9/2023 là 302 ngày x lãi suất 10%/năm = 58.722.000 đồng) là đúng pháp luật và tuyên xử; buộc bà N trả cho bà H tiền vốn và lãi là 758.722.000 đồng; đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà H không yêu cầu bà N trả cho bà số tiền 50.000.000 đồng; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H yêu cầu ông T với bà N liên đới trả số tiền 758.722.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

6

Bà N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà N, cần giữ nguyên án sơ thẩm như Viện kiểm sát đề nghị là đúng pháp luật, bà N phải chịu án phí phúc thẩm do pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Phúc xử:

  • - Không chấp nhận kháng cáo của bà Phùng Thị N.
  • - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 181/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; căn cứ các Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;Điều 26, 35, 39, 144, 147, 217, 218, 235, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bàn H.
  2. Buộc bà Phùng Thị N có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Bàn H số tiền vốn vay 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi 58.722.000 đồng (năm mươi tám triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng). Tổng cộng vốn và lãi là 758.722.000 đồng (bảy trăm năm mươi tám triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng).

    - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bàn H yêu cầu bà Phùng Thị N trả cho bà số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

    - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bàn H khởi kiện yêu cầu ông Võ Hoàng T cùng có nghĩa vụ liên đới với bà Phùng Thị N để trả cho bà số tiền 758.722.000 đồng (bảy trăm năm mươi tám triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng).

    - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

7

  1. Về chi phí tố tụng: bà Phùng Thị N phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Trần Thị Bàn H số tiền chi phí giám định chữ viết, chữ ký là 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng).
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Phùng Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 34.348.880 đồng (ba mươi bốn triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn tám trăm tám mươi đồng).
    • - Hoàn trả lại cho bà Trần Thị Bàn H số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng) theo biênsố 0012940 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới cấp ngày 25/11/2022.
  3. Về án phí dân phúc thẩm: bà Phùng Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do bà N nộp theo biên lai thu số 0013942 ngày 13/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (nên bà N không phải nộp án phí phúc thẩm).

Các nội dung khác của quyết định bản án sơ thẩm đã tuyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Tp-HCM;
  • - VKSND tỉnh AG;
  • - TAND huyện Chợ Mới;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh AG;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - VP tòa án tỉnh AG;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 269/2023/DS-PT ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 269/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Trần Thị Bàn H BĐ: Phùng Thị N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger