TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 269/2024/HSST Ngày: 10/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Viết Sáu
- Ông Đỗ Văn Hòa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Phan Thiết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Thiết: Ông Giang Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 260/2024/HSST ngày 11 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 322/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn D; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 24 tháng 4 năm 1985 tại: Bình Thuận; Nơi thường trú và chỗ ở: Khu phố G, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Cha: ông Lê Anh S (đã chết); Mẹ: bà Nguyễn Thị T (đã chết); A, chị, em ruột: có 08 người, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Hiện cùng trú tại: khu phố G, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Vợ, con: chưa có
- Tiền án:
- + Ngày 19/01/2018 bị Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 17/2018/HSST.
- + Ngày 19/01/2018 bị Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 04 năm tù tại Bản án số 17/2018/HSST buộc Dư phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 05 năm 09 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/10/2021, chưa xoá án tích.
- Tiền sự: không
- Nhân thân:
- + Ngày 23/4/2002, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 59/2002/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2003.
- + Ngày 05/8/2005, bị Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 09 tháng tù tại Bản án số 102/2005/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/7/2006.
- + Ngày 08/4/2008, bị Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 24 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 43/2008/HSST.
- + Ngày 16/3/2009, bị Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 12/2009/HSST, tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù của Bản án số 43/2008/HSST ngày 08/4/2008 buộc D phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 54 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/5/2012.
- + Ngày 13/5/2013, bị Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 77/2013/HSST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/12/2014.
- + Ngày 05/6/2024, bị Chủ tịch UBND phường Đ ra QĐ xử phạt vi phạm hành chính số 152/QĐ-XPHS, số tiền 2.500.000 đồng đối với Lê Văn D về hành vi Trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản” xảy ra ngày 21/3/2024 tại khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bị cáo Lê Văn D bị bắt tạm giam vào ngày 11/7/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 28/4/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Lê Văn D đến gặp 01 người bạn tên D1 (không rõ nhân thân) ở khu vực đường T, phường P, thành phố P đưa tiền nhờ D1 mua giúp 100.000 đồng ma tuý đá thì D1 đồng ý. Khoảng 30 phút sau, D1 quay lại đưa cho D 01 gói nylon không màu, hàn kín, bên trong có ma tuý đá rồi bỏ đi. Dư mang gói nylon trên về nhà tại khu phố G, phường L, thành phố P, lấy ra một ít sử dụng. Số ma túy còn lại Dư hàn kín lại, bỏ trong 01 bao thuốc lá hiệu Cotab rồi cất trong túi quần bên phải, phía trước của D. Đến khoảng 09 giờ 15 phút ngày 29/4/2024, D điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave lưu thông trên đường T, khi đi đến đoạn đường thuộc thôn T, xã T, thành phố P thì bị Tổ công tác thuộc Phòng C – Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã T yêu cầu dừng xe do xe không có biển số. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa D cùng tang vật về trụ sở Công an xã T để làm việc. Tại đây, Dư thừa N hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích sử dụng như nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- Tạm giữ từ Lê Văn D:
- + 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng 06 x 07 cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, được thu giữ trong 01 gói thuốc lá hiệu Cotab, trong túi quần bên phải, phía trước của D.
- + 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, không biển số, số khung RLHJC4326AY24620, số máy JC43E – 5718952.
Tại Kết luận giám định số 478/KL – KTHS ngày 06/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1209 gam, là Methamphetamine.
H lại đối tượng giám định: 01 gói nylon không màu kích thước khoảng 06 x 07 cm, đã cắt lấy mẫu; 0,0592 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 478 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 478 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.
Đối 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, không biển số, số khung RLHJC4326AY24620, số máy JC43E – 5718952, quá trình điều tra xác định: chủ sở hữu là ông Hoàng L, trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Ông L khai: chiếc xe mô tô trên được cấp biển kiểm soát 86V2 – 3523, bị mất trộm vào khoảng giữa tháng 4/2024 tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã có công văn và chuyển chiếc xe mô tô trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận để tiếp tục điều tra xử lý
Cáo trạng số 248/CT-VKSPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Lê Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Văn D từ 18 tháng đến 24 tháng tù
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 478 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Đối 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, không biển số, số khung RLHJC4326AY24620, số máy JC43E – 5718952, quá trình điều tra xác định: chủ sở hữu là ông Hoàng L, trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã có công văn và chuyển chiếc xe mô tô trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận để tiếp tục điều tra xử lý.
Nói lời sau cùng: Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là đúng, không oan, nên không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 09 giờ 15 phút ngày 29/4/2024, tại khu vực đường T thuộc thôn T, xã T, thành phố P, Lê Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1209 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã T phát hiện, thu giữ.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Do vậy Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Lê Văn D đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thành phố P, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo đã làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Vì vậy, cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tiền án, tiền sự: Bị cáo có nhân thân rất xấu.
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xét phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Xét về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 478 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
(Hiện tại đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 20 ngày 08/11/2024).
Đối 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, không biển số, số khung RLHJC4326AY24620, số máy JC43E – 5718952, quá trình điều tra xác định: chủ sở hữu là ông Hoàng Lạc . Ông L khai: chiếc xe mô tô trên được cấp biển kiểm soát 86V2 – 3523, bị mất trộm vào khoảng giữa tháng 4/2024 tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã có công văn và chuyển chiếc xe mô tô trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận để tiếp tục điều tra xử lý.
[7] Xét đối tượng có liên quan: Đối với người tên D1 (đã bán ma túy cho Lê Văn D), do không xác định được nhân thân nên không có cơ sở xử lý.
[8] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Lê Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 của Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng:
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo D phải chịu 200.000 đồng, tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (10/12/2024).
Xử phạt: Lê Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 11/7/2024.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 478 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
(Hiện tại đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 20 ngày 08/11/2024).
Đối 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, không biển số, số khung RLHJC4326AY24620, số máy JC43E – 5718952 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã có công văn và chuyển chiếc xe mô tô trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận để tiếp tục điều tra xử lý.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN |
Đỗ Văn Hòa Nguyễn Thị Viết S1 | Nguyễn Lưu T2 |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Lưu T2
Bản án số 269/2024/HSST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 269/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÊ VĂN D PHẠM TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
