Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 269/2024/HS-ST

Ngày: 31 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Huỳnh Phi Hổ;
  • 2. Ông Trần Văn Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lam – Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 216/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 225/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 418/TB-TA ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc H, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: 25/2, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Nguyễn Ngọc H1, sinh năm: 1965 (còn sống); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1970 (còn sống); Gia đình có 03 (ba) chị em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Ngày 19 tháng 11 năm 2008, bị Toà án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 60/2008/HSST); chấp hành xong bản án ngày 30 tháng 8 năm 2010.
  • - Ngày 18 tháng 8 năm 2014, bị Toà án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 50/2014/HSST); chấp hành xong bản án ngày 06 tháng 4 năm 2015.
  • - Ngày 09 tháng 12 năm 2015, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bản án số 701/2015/HSST); chấp hành xong bản án ngày 11 tháng 02 năm 2018.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21 tháng 01 năm 2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Ông Hoàng Văn T, sinh năm: 1978.

Địa chỉ: H, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Vào khoảng 19 giờ ngày 16 tháng 11 năm 2023, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60B1-718.30 đến chơi tại nhà anh T thuộc địa chỉ nêu trên. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh T đi tắm, H thấy anh T có để xe mô tô hiệu Airblade biển số 60F3-346.78 ở sân, chìa khoá xe để ở đầu tủ dép đặt ở cửa ra vào và 01 điện thoại di động hiệu Samsung S21FE để ở ghế sofa ở phòng khách nên này sinh ý định trộm cắp tài sản. H bỏ lại xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60B1-718.30 tại nhà anh T rồi lén lút lấy trộm điện thoại nêu trên bỏ vào túi quần H đang mặc. Sau đó H lấy chìa khoá ra mở xe mô tô biển số 60F3-346.78 rồi dắt bộ ra trước nhà anh T và nổ máy điều khiển xe tẩu thoát.

Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển số 60F3-346.78 vào Bệnh viện Đ tìm chỗ ngủ thì gặp 02 nam thanh niên tự giới thiệu tên là P và Q (đều không rõ lai lịch) đến làm quen và rủ H đến nhà nghỉ "” địa chỉ: A, đường Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để ngủ. Lợi dung lúc H ngủ say P và Q lấy chìa khoá và lấy trộm xe mô tô biển số 60F3-346.78.

Đến ngày 20 tháng 11 năm 2023, H mang 01 điện thoại di động hiệu Samsung S21FE đến tiệm cầm đồ “Đại Huy Hoàng” địa chỉ 126, tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do anh Lê Văn H3 (sinh năm 2003, thường trú tại thôn L, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) là quản lý, cầm điện thoại nêu trên lấy 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để lấy tiền tiêu xài. Vài ngày sau, H nhờ một người bạn (không nhớ tên và lai lịch) chuộc lại điện thoại tuy nhiên người này cũng không đưa lại điện thoại cho H.

Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, anh T đã trình báo sự việc đến Công an phường T. Công an phường T lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60B1-718.30 là xe H mượn của ông Nguyễn Ngọc H1 (là bố của H, sinh năm 1965, thường trú tại 25/2, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Ông H1 không biết H sử dụng xe đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại xe mô tô nêu trên cho ông H1.
  • + 01 xe mô tô biển số 60F3-346.78 Nguyễn Quốc H đã bị đối tượng tên P và Q (chưa rõ lai lịch) lấy trộm nên không thu giữ được.
  • + 01 điện thoại di động hiệu S S21FE H đem đến tiệm cầm đồ “Đại Huy Hoàng” cầm đồ, H nhờ 01 đối tượng (không rõ lai lịch) chuộc lại cho H, đối tượng này không đưa lại cho H nên không thu giữ được.
  • + 01 USB chứa 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Quốc H trộm xe mô tô 60F3-346.78.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐGĐTS ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận: 01 xe mô tô biển số 60F3-346.78 trị giá 22.000.000₫ (Hai mươi hai triệu đồng), 01 điện thoại di động hiệu S S21FE trị giá 3.254.650₫ (Ba triệu hai trăm năm tư nghìn sáu trăm năm mươi đồng). Tổng tài sản trị giá 25.254.650₫ (Hai mươi lăm triệu hai trăm năm tư nghìn sáu trăm năm mươi đồng).

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Hoàng Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 25.254.650₫ (Hai mươi lăm triệu hai trăm năm tư nghìn sáu trăm năm mươi đồng). Tại phiên tòa sơ thẩm, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng). Bị hại anh Hoàng Văn T yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 20.254.650đ (hai mươi triệu hai trăm năm mươi tư nghìn sáu trăm năm mươi đồng).

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 219/CT-VKSBH ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, trừ đi thời gian giam giữ theo quy định;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

3. Lời nói sau cùng:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại nhà số H, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Quốc H có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô biển số 60F3-346.78 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung S21FE của anh Hoàng Văn T với tổng trị giá 25.254.650đ (Hai mươi lăm triệu hai trăm năm tư nghìn sáu trăm năm mươi đồng).

- Về tội danh: Từ các căn cứ trên, xác định bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản Cáo trạng số: 219/CT-VKSBH ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Bị cáo có nhân thân xấu, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên dù biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái phép là vi phạm pháp luật mà vẫn thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự xem thường pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa, gia đình bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về các vấn đề khác:

Đối với anh Lê Văn H3 là quản lý tiệm cầm đồ “Đại Huy Hoàng” không biết 01 điện thoại di động hiệu Samsung S21FE do H đem đến cầm là tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý.

Đối với đối tượng Nguyễn Quốc H và Danh C đã có hành vi trộm xe mô tô 60F3-346.78 tại nhà nghỉ “A” địa chỉ: A, đường Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B có công văn chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương để phối hợp điều tra xử lý theo thẩm quyền.

[4] Về vật chứng:

  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60B1-718.30 là xe H mượn của ông Nguyễn Ngọc H1 (là bố của H, sinh năm 1965, thường trú tại 25/2, tổ D, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai). Ông H1 không biết H sử dụng xe đi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại xe mô tô nêu trên cho ông H1 là phù hợp.
  • - 01 xe mô tô biển số 60F3-346.78 Nguyễn Quốc H đã bị đối tượng tên P và Q (chưa rõ lai lịch) lấy trộm nên không thu giữ được.
  • - 01 điện thoại di động hiệu S S21FE H đem đến tiệm cầm đồ “Đại Huy Hoàng” cầm đồ, H nhờ 01 đối tượng (không rõ lai lịch) chuộc lại cho H, đối tượng này không đưa lại cho H nên không thu giữ được.
  • - 01 USB chứa 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Quốc H trộm xe mô tô 60F3-346.78, lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các điều 584, 587, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Hoàng Văn T số tiền 20.254.650₫ (hai mươi triệu hai trăm năm mươi tư nghìn sáu trăm năm mươi đồng).

[6] Về án phí:

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại tại phiên tòa:

Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là phù hợp với quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Đối với phần trình bày của bị cáo, bị hại tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 01 năm 2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các điều 584, 587, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Hoàng Văn T số tiền 20.254.650₫ (hai mươi triệu hai trăm năm mươi tư nghìn sáu trăm năm mươi đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Nguyễn Quốc H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.012.733đ (một triệu không trăm mười hai nghìn bảy trăm ba mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

    Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và các điều 7, 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS TP.Biên Hòa;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Bảo

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 269/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 269/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 21 giờ ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại nhà số H, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Quốc H có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô biển số 60F3-346.78 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung S21FE của anh Hoàng Văn T với tổng trị giá 25.254.650đ (Hai mươi lăm triệu hai trăm năm tư nghìn sáu trăm năm mươi đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger