Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG MÃ

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 269/2024/HSST

Ngày 16 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Thôn; ông Trần Thành Vân

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Quàng Văn Cuộc - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 259/2024/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 263/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cà Văn Th, sinh năm 1991, tại huyện Sông M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản Nà H, xã Nậm T, huyện Sông M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Cà Văn K và bà Cà Thị Hg (đã chết); bị cáo có vợ là Lường Thị Tr (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/8/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 28 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 19/6/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2024 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 06 giờ 00 phút, ngày 05/6/2024 Tổ công tác của Công an xã Nậm T làm nhiệm vụ phòng chống ma tuý tại bản Nà H, xã Nậm T, Sông Mã đã đến nhà Cà Văn Th, sinh năm 1991, trú tại bản Nà H, xã Nậm T để tiến hành test thử ma túy đối với Th là người có phiếu phát giác của quần chúng nhân dân về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, khi làm việc với Th, tổ công tác yêu cầu Th nếu cất giấu đồ vật vi phạm pháp luật thì đem giao nộp, Th đã lấy từ khe giữa hai viên ngói trên mái nhà ra 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 03 cục bột liên kết màu trắng và 24 viên nén màu hồng giao nộp cho tổ công tác, Th khai nhận là Heroine và Hồng phiến cất giấu để sử dụng, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Th về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, Th giữ vật chứng nghi là ma túy .

Cùng ngày, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định vật chứng nghi là ma túy Th giữ của Th, kết quả:

- 03 cục bột liên kết màu trắng có tổng khối lượng 1,41 gam, đã sử dụng 0,11 gam làm mẫu giám định ký hiệu T1, vật chứng còn lại 1,30 gam cho vào túi nilon màu trắng làm vật chứng lưu kho ký hiệu L1.

- 24 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 2,35 gam, đã sử dụng 05 viên có tổng khối lượng 0,48 gam làm mẫu giám định ký hiệu T2, vật chứng còn lại 19 viên có tổng khối lượng 1,87 gam cho vào túi nilon màu trắng làm vật chứng lưu kho ký hiệu L2.

Kết luận giám định số 1224/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng kỹ Thật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (Heroin); có tên khoa học là DiaceTlmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam.

Mẫu ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam.

Tổng khối lượng ma túy Th giữ là 1,41 gam loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là DiaceTlmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; 2,35 gam loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra bị cáo Cà Văn Th khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 17 giờ 00 ngày 04/6/2024 Cà Văn Th một mình đi bộ từ nhà ở bản Nà H đến bản Nà Sèo, cùng xã Nậm T, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng, khi đi Th đem theo số tiền 600.000 đồng (là tiền do Th lao động, tiết kiệm mà có), khi đang đi trong bản Nà Sèo thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ ngược chiều, Th nói chuyện và hỏi mua ma túy, người đàn ông nói có bán và hỏi Th mua bao nhiêu tiền, Th nói mua với tổng số tiền 600.000đ, trong đó 300.000₫ mua Heroine và 300.000đ còn lại mua Hồng phiến. Nói xong, Th lấy tiền trong túi quần đang mặc đưa cho người đàn ông, người đàn ông dân tộc Mông nhận tiền rồi lấy từ trong túi vải thổ cẩm đang đeo trên người ra 01 gói nilon màu trắng đưa cho Th,Th nhận lấy thấy bên trong gói nilon có 03 cục bột liên kết màu trắng và 24 viên Hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, Th cất gói ma túy vào túi quần đang mặc rồi đi bộ về. Đến nhà, Th đem gói ma túy mua được cất giấu vào khe giữa hai viên ngói trên mái nhà khi nào lên cơn nghiện sẽ đem ra sử dụng. Đến khoảng 06 giờ ngày 05/6/2024, khi Th đang chuẩn bị lấy số ma túy cất giấu trên mái nhà ra để sử dụng thì Tổ công tác Công an xã Nậm T đến để test thử ma tuý và yêu cầu Th nếu có cất giấu đồ vật vi phạm liên quan đến ma túy thì lấy ra nộp cho tổ công tác, Th đã lấy gói ma túy đang cất giấu ra nộp cho tổ công tác. Tổ công tác Công an xã Nậm T đã tiến hành Lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Th về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, Th giữ vật chứng nghi ma túy.

Cáo trạng số 200/CT-VKSSM ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Cà Văn Th về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Cà Văn Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Cà Văn Th từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX: Tịch Th để tiêu hủy 1,30 gam ma túy, loại Heroine đựng trong túi nilon màu trắng; 1,87 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở;

Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

Bị cáo Cà Văn Th không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng Th giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 05/6/2024 bị cáo Cà Văn Th đã có hành vi tàng trữ 1,41 gam ma túy, loại Heroine và 2,35 ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng của 02 chất ma túy là 3,76 gam, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không tH đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm tH đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Cà Văn Th thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[3] Về tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo đã 02 lần bị kết án phạm tội về ma túy và được xóa án tích. Do đó, khi lượng hình cần cân nhắc để có mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[6] Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về các vấn đề có liên quan: Đối với người đàn ông dân tộc Mông, không rõ tên tuổi và địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực bản Nà Sèo, xã Nậm T, Sông Mã vào ngày 04/6/2024. Do không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

[8] Vật chứng của vụ án: Đối với 1,30 gam ma túy, loại Heroine đựng trong túi nilon màu trắng; 1,87 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch Th để tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Cà Văn Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Cà Văn Th 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2024.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch Th để tiêu hủy 1,87 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.

(các vật chứng được đựng trong một phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong, giấy dán niêm phong có mã số 0003661).

Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 189/QĐ-VKS ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 17 giờ 00 phút ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Cà Văn Th được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKS huyện Sông Mã;
  • - Trại giam;
  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - THAHS;
  • - CCTHADS huyện Sông Mã;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lô Văn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 269/2024/HSST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 269/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA HSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger