|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 269/2024/DS-PT Ngày: 08-5-2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Khương |
| Các thẩm phán: | Ông Dương Tuấn Vinh |
| Bà Nguyễn Thị Cúc |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 820/TLPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1293/2024/QĐXXPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số B, đường L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1970 và bà Trần Thị L, sinh năm 1968. Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông M, bà L: Ông Phạm H, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tỉnh lộ 10, Ô3, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn S; chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện Đ (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1957. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số H, đường E, Khu phố B, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số B, đường L, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số A, đường L, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà B, ông M1, bà K, bà Đ1: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số B, đường L, Phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Ông Lại Văn G, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
- Bà Hoàng Thị Ngọc D, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số A, Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Trí T, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Ông bà nội bà Đ là cụ Nguyễn Văn T1, sinh năm 1913, chết năm 2002 (không có giấy chứng tử) và cụ Nguyễn Thị T2, chết năm 1967 (không có giấy chứng tử). Cụ T1, cụ T2 là vợ chồng sống chung từ năm 1940. Trong quá trình sống chung có tạo lập được khối tài sản chung gồm phần đất tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (hiện nay là thửa 1252, 1253 và một phần thửa 1255, tờ bản đồ số 3).
Cụ T1 và cụ T2 có 02 người con chung gồm:
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1942, chết năm 1969 (liệt sĩ). Người thừa kế thế vị của ông T3 gồm 04 người con như sau: Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1962; bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965; bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1968; bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1969.
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1957.
Cụ T1, cụ T2 không có con riêng hay con nuôi nào khác. Cha mẹ của cụ T1, cụ T2 đã chết trước cụ T1, cụ T2 đã lâu. Cụ T1, cụ T2 chết không để lại di chúc hay bất kỳ nghĩa vụ về tài sản nào.
Sau khi cụ T1 chết, gia đình bà Đ đã chôn cất cụ T1 trên thửa đất số 1253 (giáp đường đi hiện nay), diện tích còn lại dùng để làm thổ mộ. Tại thửa đất số 1252, 1253 và một phần thửa số 1255 có nhà của cụ T1. Cụ T1 sinh sống từ nhỏ đến khi mất tại mảnh đất này. Bốn anh em bà Đ cũng được sinh ra và lớn lên tại nhà đất của cụ T1.
Năm 1966, cụ T1, cụ T2 chạy giặc đến T (hiện nay là huyện T, tỉnh Tây Ninh). Sau đó, cụ T2 chết và chôn cất tại đó năm 1967. Đến năm 1969, gia đình bà Đ trở về sinh sống tại thửa đất 1252, 1253 và một phần thửa 1255.
Đến năm 1969, cha bà Đ là ông Nguyễn Văn T3 hi sinh trong thời kháng chiến chống Mỹ. Sau đó, chính quyền chế độ cũ tìm mẹ bà Đ để tra bắt. Vì vậy, mẹ bà Đ là bà Nguyễn Thị H1 mới đưa các con lên S sinh sống cho đến nay. Riêng cụ T1 vẫn sống tại nhà đất trên thửa 1252, 1253 và một phần thửa 1255. Sau năm 1980, cụ T1 có vợ mới (không có con chung) cũng chung sống trên đất này, cụ T1 cũng cho con riêng của vợ mới là ông G một phần đất, hiện ông G cũng đang sống gần phần đất tranh chấp.
Năm 2002, khi cụ T1 chết, gia đình bà Đ có về thọ tang và chôn cất xây mộ cụ T1 trên thửa đất trên, mỗi năm thì các anh em bà Đ vẫn về thăm đất, thăm mộ ba đến năm lần. Còn phần căn nhà của cụ T1 đã bị hư sập và tháo dỡ. Năm 2022, khi có điều kiện, gia đình bà Đ bốc hài cốt của cụ T2 về quê chôn cất gần mộ cụ T1 và xây nhà thờ cúng thì bị vợ chồng ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L ngăn cản. Qua tìm hiểu thì bà Đ biết được vợ chồng ông M, bà L đã lấn chiếm và tự ý kê khai, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1252, 1253 và một phần thửa 1255. Do đó, bà Đ khởi kiện yêu cầu như sau:
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L trả lại cho bà Đ các thửa đất số 1253, diện tích 3.687m², thửa đất số 1252, diện tích 502m² và một phần thửa đất số 1255, diện tích 166m², cùng tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 061845, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04285, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L ngày 30/8/2017 đối với thửa đất số 1253, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 061846, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04284, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L ngày 30/8/2017 đối với thửa đất số 1252, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L đối với một phần thửa đất số 1255, diện tích 166m², cùng tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Diện tích đất tranh chấp theo Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ đo vẽ và duyệt ngày 05/10/2022. Nguyên đơn đồng ý chứng thư thẩm định giá.
Bị đơn ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị L trình bày:
Phần đất tranh chấp thuộc thửa 1252, 1253 có nguồn gốc của cụ Nguyễn Văn T1 như bà Đ trình bày là đúng; đối với một phần thửa 1255 tranh chấp có nguồn gốc ông M khai hoang và kê khai đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông M, bà L xác định ông T3, bà B không phải là con đẻ của cụ T1 mà là con nuôi của cụ T1 trong thời kỳ kháng chiến nên bà Đ khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với ông M, bà L là không đúng. Cụ T1 là bác ruột
thứ hai của ông M, do cụ T1 không có con, không ai thờ cúng nên thân tộc đã thống nhất họp lại để các thửa đất 1252 và 1253 cho ông M được hưởng, ông M có nghĩa vụ thờ cúng cụ T1, có Biên bản ghi nhận nội dung cuộc họp thân tộc phân định tài sản thừa kế của ông Nguyễn Văn T1 ngày 16/3/2008. Biên bản này có ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) là cha ông M và là em trai thứ sáu của cụ T1, ông Nguyễn Văn T4 (đã chết) là người con trai thứ bảy của ông B1, ông Nguyễn Văn G1 là hàng xóm, ông Trần Văn C1 là trưởng ấp M, ông Nguyễn Văn Q là đại diện con người thứ bà Nguyễn Thị B2 (đã chết) và ông M thông qua và ký tên. Nội dung biên bản giao cho ông T4 0,4ha đất, ông T4 có trách nhiệm xây mộ cụ T1, diện tích đất còn lại giao cho ông M.
Trên cơ sở biên bản này thì ông M nhận đất sử dụng trồng tràm, bạch đàn từ năm 2008 đến nay, trong đó năm 2017 ông M kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trước đó đất trống chỉ cây tạp mọc. Ông M, bà L xác định đất tranh chấp được cấp cho ông M, bà L là hợp pháp nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
Ngày 10/02/2022, ông M, bà L đã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 1253 (MPT), diện tích 1.205m² cho bà Hoàng Thị Ngọc D, các bên đã giao nhận tiền nhưng chưa giao nhận đất và cũng chưa đăng ký sang tên quyền sử dụng đất. Trong vụ án này, ông M, bà L không tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà D, nếu có sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.
Ngoài ra trên thửa 1253 có lối đi của ông G trước đây cụ T1 đã cho ông G đi lại trên lối đi này nên ông M, bà L vẫn đồng ý để ông G đi lại trên lối đi này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng bà Hoàng Thị Ngọc D, ông Nguyễn Trí T trình bày:
Ngày 10/02/2022, bà Hoàng Thị Ngọc D và chồng là ông Nguyễn Trí T đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông M, bà L theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 1253 (MPT), diện tích 1.205m² (bà D đại diện cho ông T đứng tên hợp đồng), các bên đã giao nhận tiền nhưng chưa giao nhận đất và cũng chưa đăng ký sang tên quyền sử dụng đất. Trong vụ án này, bà D, ông T không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông M, bà L, nếu tranh chấp sau này sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Lại Văn G, bà Nguyễn Thị C trình bày:
Ông G là con của bà Mang Thị N (chết năm 2022). Bà N có sống chung với cụ T1 một thời gian, giữa bà N với cụ T1 không có con chung. Trước đây, khi ông G lập gia đình với bà Nguyễn Thị C thì cụ T1 có cho ông G một phần đất khoảng 5,8 m2 hiện có xây một căn nhà cấp bốn có lối đi ra đường công cộng thì đi ngang qua thửa đất 1253 của ông M, bà L. Nay ông bà không tranh chấp về lối đi này và cũng không tranh chấp gì trong vụ án này, nếu có thì ông bà sẽ tranh chấp bằng vụ án khác. Do bận việc với nhà xa nên ông bà xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án đến khi Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đ có Văn bản số 2540/UBND-TNMT ngày 17/7/2023 trình bày như sau:
Nguồn gốc các thửa đất số 1252, 1253 và một phần thửa 1255 là của cha mẹ ông Nguyễn Văn T1 cho ông Nguyễn Văn M (cụ T1 sinh năm 1913, chết năm 2002). Cụ T1 sống một mình khi lớn tuổi không có con chăm sóc, người chăm sóc là cháu của cụ T1 là ông M. Khi cụ T1 chết, thân tộc có cuộc họp thống nhất để ông M đăng ký quyền sử dụng đất phần đất trên. Thực tế thì ông M đã quản lý, sử dụng ổn định các thửa đất này từ năm 1996 đến khi xảy ra tranh chấp năm 2023. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1996 cụ T1 quản lý, sử dụng; giai đoạn từ năm 1997 đến nay thì ông M quản lý, sử dụng. Tháng 12/2016, ông M đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp trên, Ủy ban nhân dân xã M căn cứ vào biên bản ghi nhận nội dung cuộc họp thân tộc phân định tài sản thừa kế của cụ T1. Tháng 8/2017, Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất trên cho ông M, bà L. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng trình tự, đối tượng theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2023/DS-ST ngày 18-9-2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số: 37/2024/QĐ-SCBSBA ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” với ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị L.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 061845, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04285, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L ngày 30/8/2017 đối với thửa đất số 1253, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 061846, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04284, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L ngày 30/8/2017 đối với thửa đất số 1252, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L đối với một phần thửa đất số 1255, diện tích 166m², cùng tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Buộc ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ các thửa đất số 1253, diện tích 3.115m²; thửa đất số 1252, diện tích 502m²; một phần thửa đất số 1255, diện tích 166m²; cùng tờ bản đồ số 3; đất tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Buộc bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L số tiền là: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/9/2023, bị đơn ông Nguyễn Thanh M2 và bà Trần Thị L kháng kháng đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông M2 và bà L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông M2 và bà L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1]. Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh M2 và bà Trần Thị L là trong hạn luật định, hợp lệ được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
* Nội dung:
[2]. Xét lời trình bày của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tất cả đều thừa nhận nguồn gốc diện tích đất 502m² thuộc thửa số 1252; Diện tích đất 3.115m² thuộc thửa số 1253 và diện tích đất 166m² thuộc thửa số 1255 là tài sản của của vợ chồng cụ Nguyễn Văn T1 và cụ Nguyễn Thị T2, là phù hợp với “Biên bản ghi nhận nội dung cuộc Họp thân tộc phân định tài sản thừa kế của ông Nguyễn Văn T1” ngày 16/3/2008 (Bút lục 115).
[3]. Cụ T1 và cụ T2 có 02 người con ruột là: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1942, chết năm 1969 (liệt sĩ) và bà Nguyễn Thị B. Ngoài ra, không có con ruột con nuôi nào khác.
[4]. Năm 1976, cụ T2 chết không để lại di chúc, diện tích đất tranh chấp nêu trên cụ T1 tiếp tục quản lý, sử dụng, đến năm 1996 cụ T1 già yếu, nên giao cho cháu là ông Nguyễn Văn M quản lý, sử dụng và chăm sóc cụ T1 đến năm 2002 cụ T1 chết, ông M tiếp tục quản lý và sử dụng đến nay. Như vậy, diện tích đất nêu trên là di sản của cụ T1 và cụ T2 chưa chia thừa kế. Hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản của cụ T1 và cụ T2 là: bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T3 (Ông tiện chết trước cụ T2 và cụ T1 nên các con ông T3 là: Ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị K và bà Nguyễn Thị Đ1 được hưởng thừa kế thế vị). Tuy nhiên, sau khi cụ T1 chết, ông M đã căn cứ vào “Biên bản ghi nhận nội dung cuộc Họp thân tộc phân định tài sản thừa kế của ông Nguyễn Văn T1” ngày 16/3/2008, gồm có: Ông Nguyễn Văn B1, anh Nguyễn Văn Q1, anh Nguyễn Văn T4 và anh Nguyễn Văn M (Con trai của ông B1) ký tên (Bút lục 115), nhưng những người nêu trên không phải là người thuộc hàng thừa kế di sản của cụ T1 và cụ T2. Bà B và ông M1, bà Đ, bà K và bà Đ1 là những người
thuộc hàng thừa kế thứ nhất - được hưởng thừa kế của cụ T1 và cụ T2 thì không tham gia họp và không ký vào “Biên bản ghi nhận nội dung cuộc Họp thân tộc phân định tài sản thừa kế của ông Nguyễn Văn T1”. Căn cứ vào Biên bản nêu trên, vợ chồng ông M và bà L đã tiến hành kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 30/8/2017, UBND huyện Đ cấp 03 giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L, gồm: Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 061845, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04285 đối với thửa đất số 1253, tờ bản đồ số 3; Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 061846, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04284 với thửa đất số 1252, tờ bản đồ số 3 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 061844, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04286 đối với thửa đất số 1255, tờ bản đồ số 3, là trái pháp luật. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông M và bà L phải trả lại đất cho nguyên đơn và hủy 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là có căn cứ.
[5]. Tuy nhiên, bị đơn có công sức quản lý tài sản tranh chấp từ năm 1996 và có công sức chăm sóc cụ T1 đến khi cụ T1 chết. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tính cho ông M và bà L số tiền là: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) là chưa đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng bị đơn. Nên cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông M và bà L tính thêm công sức đóng góp cho ông M và bà L như sau: Theo Chứng thư thẩm định giá ngày 05/4/2023 của Công ty cổ phần T5 tổng diện tích đất đang tranh chấp giá trị là 657.499.000đ, trong đó bà Nguyễn Thị B hưởng 1/3 giá trị, ông Nguyễn Văn T3 hưởng 1/3 giá trị, ông M và bà L hưởng 1/3 giá trị là 219.166.000đ (hai trăm mười chín triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Vì vậy công sức đóng góp của ông M và bà L được tính là 219.166.000đ (hai trăm mười chín triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
[6]. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông M và bà L trả lại cho một mình bà Đ diện tích đất tranh chấp và tuyên buộc một mình bà Đ phải trả cho ông M và bà L số tiền công sức đóng góp, là chưa phù hợp. Bởi lẽ, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T3 là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản của cụ T1 và cụ T2 để lại, do ông T3 chết trước nên các con ông T3 là ông M1, bà Đ, bà K và bà Đ1 được hưởng thừa kế thế vị của ông T3. Nên bà B, ông M1, bà Đ, bà K và bà Đ1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông M và bà L số tiền công sức đóng góp nêu trên.
[7]. Tòa án cấp sơ thẩm hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CK 061844, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04286 đối với diện tích 166m² thuộc thửa 1255 và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CK 061845, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04285, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L ngày 30/8/2017 đối với diện tích đất 3.115m2 thuộc thửa đất số 1253, là không đảm bảo cho việc thi hành án sau này. Bởi lẽ, 02 diện tích đất trên thuộc một phần của thửa số 1253 và thửa 1255, không phải một thửa riêng biệt, nên việc Tòa án
cấp sơ thẩm tuyên hủy một phần các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là không phù hợp với Công văn số: 837/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ ngày 11 tháng 5 năm 2021 của T6 – Bộ T7 và Công văn số: 196/TANDTC-PC ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân tối cao.
[8]. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên “Trường hợp bên thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp)”. Việc tuyên như vậy là không cần thiết, bởi lẽ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị Tòa án tuyên hủy thì không còn giá trị pháp lý nữa.
[9]. Án phí dân sự sơ thẩm:
Tòa án sơ thẩm buộc bà Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L số tiền là: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) công sức đóng góp nhưng không buộc bà Đ phải chịu án phí là có thiếu sót. Nên cần sửa lại để buộc bà B, ông M1, bà Đ, bà K và bà Đ1 phải liên đới chịu 10.958.000₫ (219.166.000₫ x 5% = 10.958.000đ). Trong đó, bà B phải chịu số tiền 5.479.000đ; Còn ông M1, bà Đ, bà K và bà Đ1 là con của Liệt sĩ nên được miễn số tiền 5.479.000đ.
[10]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn không phải chịu án phí.
[11]. Đại diện Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông M và bà L, giữ nguyên bản án sơ thẩm, là không có căn cứ chấp nhận.
[12]. Từ những nhận định nêu trên, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa một phần Bản án sơ thẩm.
[13]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2023/DS-ST ngày 18-9-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Áp dụng Điều 2, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993; Điều 105 của Luật Đất đai năm 2003; Điều 99 Luật Đất đai năm 2013; Các Điều 609, 610, 612, 613, 615, 616, 617, 618 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 15 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” với ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị L.
- Buộc ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L trả lại cho bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị K và bà Nguyễn Thị Đ1 diện tích đất 502m² thuộc thửa số 1252; Diện tích đất 3.115m² thuộc thửa số 1253 và diện tích đất 166m² thuộc thửa số 1255 cùng tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (Theo Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ đo vẽ và duyệt ngày 05/10/2022). Bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị K và bà Nguyễn Thị Đ1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các diện tích đất nêu trên.
- Buộc bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị K và bà Nguyễn Thị Đ1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L số tiền công sức đóng góp là: 219.166.000đ (hai trăm mười chín triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CK 061845, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04285, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L ngày 30/8/2017 đối với thửa đất số 1253, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CK 061846, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04284, do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L ngày 30/8/2017 đối với thửa đất số 1252, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CK 061844, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 04286 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L ngày 30/8/2017 đối với thửa đất số 1255, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất còn lại của thửa đất số 1255 và thửa 1253 nêu trên (sau khi trừ đi diện tích đất phải trả lại cho bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị K và bà Nguyễn Thị Đ1, theo M3 trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ đo vẽ và duyệt ngày 05/10/2022).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị B phải chịu số tiền 5.479.000đ (năm triệu, bốn trăm, bảy mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ một phần vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà Nguyễn Thị Đ đã nộp là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số: 0001574 ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị K và bà Nguyễn Thị Đ1 là con của Liệt sĩ nên được miễn số tiền 5.479.000đ (năm triệu, bốn trăm, bảy mươi chín nghìn đồng) án phí sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L không phải chịu. Hoàn trả lại cho ông M và bà L 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lại thu số 0000079 và 0000080 ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 269/2024/DS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 269/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Đ kiện ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị L V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
