Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 269/2023/HS-PT

Ngày: 21-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn

Các Thẩm phán: 1/ Ông Phạm Viết Hùng

2/ Ông Vũ Hoài Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 262/2023/TLPT-HS, ngày 24/7/2023 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: không); giới tính: Nam; sinh năm 1984, tại tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Nhà không số, Ấp A, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1959 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1962; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T3, sinh năm 1984 và có 3 người con (con lớn nhất, sinh năm 2010 và con nhỏ nhất, sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/4/2022 đến nay.

Bị cáo tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa)

2. Lê Văn T1 (Tên gọi khác: không); giới tính: N; sinh năm 1990, tại tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ số A, Ấp A, xã X, huyện H, T. Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; con ông Lê Văn N1 (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm: 1960; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thúy N2, sinh năm: 1994 và có 02 người con (con lớn nhất, sinh năm 2018, con nhỏ nhất, sinh năm 2020); tiền án, tiền sự : Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/4/2022 đến nay.

Bị cáo tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại (không có kháng cáo, không bị kháng nghị): Trương Ngọc H1, sinh năm 1990,

Hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi ở: Nhà không số, tổ C, ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.Nơi ở hiện nay: Lô 17-ÔCL 06 Đường số C, Khu tái định cư H, Thành phố N (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/8/2020, Nguyễn Văn T cùng với Trương Ngọc H1, Bùi Văn V, Tô Thiện Q nhậu tại nhà của Q địa chỉ nhà không số, Tổ B, Ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình ăn nhậu thì T có mâu thuẫn với Q và H1 về việc tờ rơi quảng cáo rút hầm cầu của T bị xé, rồi T cầm lon bia đập xuống bàn rồi hai bên cự cãi qua lại, rồi H1 đá trúng chân của T một cái, T bỏ chạy ra ngoài đường và gọi điện thoại cho anh họ là Lê Văn T1 báo cho T1 biết về việc bị H1 đánh. Nghe vậy, T1 xuống bếp lấy một con dao tự chế dài khoảng 60 cm, cán bằng gỗ dùng để chặt thịt, quấn vải xung quanh và để lên baga xe máy Honda Wave màu đỏ biển số 36B5 - 373.69 rồi điều khiển xe đi đến nhà Q. Trên đường đi thì gặp T đang đi về nên T1 dừng lại, T rút con dao cầm trên tay và ngồi sau xe để T1 chở quay lại nhà Q. Khi cả hai đi được một đoạn thì gặp H1 đang điều khiển xe máy trên đường về, T cầm dao nhảy xuống xe, xông đến chỗ H1, H1 bỏ xe chạy, T đuổi theo đến trước nhà I đường X - 1A Ấp D, xã X, huyện H thì đuổi kịp và dùng dao chém trúng hông bên phải và ngón tay phải của H1, dẫn đến H1 bỏ chạy vào nhà người dân gần đó nên T không đuổi theo và quay về chỗ T1 đang đậu xe để T1 chở T về nhà.

Sau đó, H1 được người nhà đưa đến Bệnh viện Đ điều trị vết thương. Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 24/8/2020 H1 đến Công an xã X trình báo vụ việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra triệu tập Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 đến làm việc. T và T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngày 06/10/2020, Trung tâm P - Sở Y tế thành phố H ra bản kết luận giám định pháp y thương tích số 909/TgT.20 về thương tích của Trương Ngọc H1 như sau:

Đa chấn thương phần mềm gây sưng nề, sây sát da đã được điều trị, hiện:

  • + Không còn sưng thái dương phải. Thông tư 22/2019/TT-BYT không quy định về tỷ lệ sung mô mềm. Nghi do vật tày tác động gây ra.
  • + Còn các vết tăng giảm sắc tố da tại: Vùng gò má phải kích thước 7x(2,5-3,8)cm (ảnh 1); vùng mặt bên phải miệng kích thước 3x1,5cm (ảnh 2); vùng 1/3 trên mặt sau cẳng tay phải kích thước 7,2x(1,2-6,5)cm (ảnh 3); vùng mặt sau ngoài cẳng tay trái kích thước 15,7x3cm (ảnh 4); vùng mu bàn tay trái trên diện 7,5x7cm (ảnh 5). Thương tích do vật tày mặt nhám tác động hoặc phần cơ thể tác động vào vật tày mặt nhám gây ra.
  • + Không còn sây sát vùng hông trái. Không đủ cơ sở để xác định hung khí.
  • -Đa vết thương phần mềm gây đứt da đã được điều trị khâu vết thương, hiện còn các sẹo tại: Hông phải kích thước 10,1x0,1cm (ảnh 6); gan gốc ngón II bàn tay phải kích thước 2,3x0,15cm (ảnh 7). Các thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động.
  • -Chấn thương gối phải gây sây sát da đã được điều trị, hiện còn: Một sẹo kích thước 6,7x2,8cm (ảnh 8); Hình ảnh tổn thương khu trú nhẹ sụn khớp mặt sau trong xương bánh chè và tràn ít dịch trong bao hoạt dịch trên phim cộng hưởng từ; Thương tích do vật tày mặt nhám tác động hoặc phần cơ thể tác động vào vật tày mặt nhám gây ra.
  • - Hồ sơ bệnh án ghi nhận đau vai phải, không ghi nhận dấu vết thương tích gì vùng vai, không làm xét nghiệm vùng vai, hiện tại thời điểm giám định không ghi nhận dấu vết thương tích, tình trạng ổn định.
  • -Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 17% (mười bảy phần trăm). Các thương tích không nguy hiểm đến tính mạng của đương sự.

Ngày 07/12/2021 Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tuyên phạt Nguyễn Văn T 03 năm 06 tháng tù, Lê Văn T1 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo bản án số 142/2021/HS-ST.

Ngày 13/3/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy bản án sơ thẩm số 142/2021/HS-ST ngày 07/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, yêu cầu xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của từng thương tích đối với bị hại Trương Ngọc H1.

Tại văn bản số: 909-GT/TgT.20 ngày 04/7/2022 của Trung tâm P - Sở Y giải thích pháp y của đương sự Trương Ngọc H1 như sau:

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 909/TgT.20 của Trương Ngọc H1 sinh năm 1990 cụ thể như: Các thương tích tại vùng gò má phải có tỉ lệ 03% (ba phần trăm); vùng mặt bên phải miệng có tỉ lệ 1,5% (một phẩy năm phần trăm); mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải có tỉ lệ 1% (một phần trăm); mặt sau ngoài cẳng tay trái có ba vết, mỗi vết có tỉ lệ 01% (một phần trăm); vùng bàn tay trái có năm vết, mỗi vết có tỉ lệ 0,5% (không phẩy năm phần trăm); vùng hông phải có tỉ lệ 02% (hai phần trăm); ngón II bàn tay phải có tỉ lệ 01% (một phần trăm); vùng gối phải có tỉ lệ 04% (bốn phần trăm); chấn thương vùng hông trái có tỉ lệ 00% (không phần trăm). Cộng các tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trên theo phương pháp được quy định tại Điều 4, Thông tư 22/2019/TT-BYT là 17% (mười bảy phần trăm).

Vật chứng thu giữ: không.

Đối với con dao là hung khí dùng để chém bị hại H1, T đã vứt bỏ trên đường, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được.

Đối với xe máy Honda Wave biển số 36B5-373.69 là phương tiện Tới điều khiển chở T đi thực hiện hành vi phạm tội, qua xác minh xe do Nguyễn Thị Thúy N2 là vợ của T1 đứng tên chủ sở hữu, hiện nay đã bán cho người khác.

Về dân sự: Bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường theo phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm 142/2021/HS-ST ngày 07/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn. Bị cáo T và T1 phải liên đới bồi thường cho bị hại H1 số tiền 92.031.639 đồng (mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là: 46.015.820 đồng) nhưng tới nay các bị cáo chưa thực hiện việc bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 206/CT-VKS - HS ngày 10 tháng 10 năm 2022Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Văn T1 về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Văn Tới T4 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

- Ông Trương Ngọc H1 theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã yêu cầu buộc hai bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho số tiền 92.031.639 đồng, mỗi bị cáo phải bồi thường 46.015.820 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, bị cáo Lê Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

    - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.
  4. - Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường cho bị hại Trương Ngọc H1 số tiền 46.015.820 đồng. Bị cáo T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu) (biên lai thu số AA/2022/0005066 ngày 20/3/2023), bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường tiếp cho bị hại H1 số tiền 36.015.820 đồng (ba mươi sáu triệu không trăm mười lăm ngàn tám trăm hai mươi đồng).

    - Buộc bị cáo Lê Văn T1 bồi thường cho H1 46.015.820 đồng. Bị cáo T1 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu) (biên lai thu số AA/2022/ 0005067 ngày 20/3/2023), bị cáo Lê Văn T1 bồi thường tiếp cho bị hại H1 số tiền 41.015.820 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm mười lăm ngàn tám trăm hai mươi đồng).

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/5/2023, bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Lê Văn T1 cùng có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

- Các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định.

Về yêu cầu kháng cáo, bị cáo Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, mẹ đang mắc bệnh ung thư, gia đình có người thân có công với cách mạng, trong thời gian bị cáo kháng cáo, bị cáo đã bồi thường các khoản tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên trực tiếp cho bị hại H1 số tiền là 36.015.820 đồng (ba mươi sáu triệu không trăm mười lăm ngàn tám trăm hai mươi đồng) và được bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Lê Văn T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, với lý do bị cáo là là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trong thời gian bị cáo kháng cáo bị cáo đã bồi thường các khoản tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên trực tiếp cho bị hại H1 số tiền là 41.015.820 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm mười lăm ngàn tám trăm hai mươi đồng) và được bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, xét thấy khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 bồi thường trực tiếp cho bị hại toàn bộ số tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo và được bị hại H1 viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bản thân các bị cáo đều là lao động trong gia đình, bị cáo T có mẹ đạng bị bệnh ung thư, gia đình có người thân có công với cách mạng, theo các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, dù các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới nêu trên, song xét mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đối với bị cáo T và 02 (hai) năm 06 (sáu) đối với bị cáo T1 mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo và y bản án sơ thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 đều có ý kiến tranh luận về các tình tiết giảm nhẹ mới và đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo, để các bị cáo lao động lo cho gia đình.

Qua nội dung đối đáp, đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo đều giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ra bản án đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 24/5/2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, đến ngày 31/5/2023, các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo. Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 được lập trong trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/8/2020, Nguyễn Văn T cùng với Trương Ngọc H1, Bùi Văn V, Tô Thiện Q nhậu tại nhà của Q địa chỉ nhà không số, Tổ B, Ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình ăn nhậu thì T có mâu thuẫn với Q và H1 về việc tờ rơi quảng cáo rút hầm cầu của T bị xé, rồi T cầm lon bia đập xuống bàn rồi hai bên cự cãi qua lại, rồi H1 đá trúng chân của T một cái, T bỏ chạy ra ngoài đường và gọi điện thoại cho anh họ là Lê Văn T1 báo cho T1 biết về việc bị H1 đánh. Nghe vậy, T1 xuống bếp lấy một con dao tự chế dài khoảng 60 cm, cán bằng gỗ dùng để chặt thịt, quấn vải xung quanh và để lên baga xe máy Honda Wave màu đỏ biển số 36B5 - 373.69 rồi điều khiển xe đi đến nhà Q. Trên đường đi thì gặp T đang đi về nên T1 dừng lại, T rút con dao cầm trên tay và ngồi sau xe để T1 chở quay lại nhà Q. Khi cả hai đi được một đoạn thì gặp H1 đang điều khiển xe máy trên đường về, T cầm dao nhảy xuống xe, xông đến chỗ H1, H1 bỏ xe chạy, T đuổi theo đến trước nhà I đường X - 1A Ấp D, xã X, huyện H thì đuổi kịp và dùng dao chém trúng hông bên phải và ngón tay phải của H1, sau khi bị chém H1 liền bỏ chạy vào nhà người dân gần đó nên T không đuổi theo và quay về chỗ T1 đang đậu xe để T1 chở T về nhà. H1 được người nhà đưa đến Bệnh viện Đ điều trị vết thương. Kết luận giám định Pháp y thương tích số 909/TgT.20 ngày 06/10/2020, Trung tâm Pháp y - Sở Y tế thành phố H kết luận: Đa chấn thương phần mềm gây sưng nề, sây sát da đã được điều trị với tỷ lệ thương tật là 17%.

Do đó, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và không oan sai.

[3] Xét đơn kháng cáo của bị cáo:

Trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, mẹ đang mắc bệnh ung thư, gia đình có người thân có công với cách mạng, trong thời gian bị cáo kháng cáo, bị cáo đã bồi thường các khoản tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên trực tiếp cho bị hại H1 là 36.015.820 đồng (ba mươi sáu triệu không trăm mười lăm ngàn tám trăm hai mươi đồng) và được bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Lê Văn T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, với lý do bị cáo là là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trong thời gian bị cáo kháng cáo bị cáo đã bồi thường các khoản tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên trực tiếp cho bị hại H1 là 41.015.820 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm mười lăm ngàn tám trăm hai mươi đồng) và được bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và các bị cáo đều phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, nên mức án đối với bị cáo là quá nghiêm khắc.

Về hình phạt đã áp dụng đối với bị cáo, khi lượng hình thì Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo đó là: Bị cáo T và bị cáo T1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, ngoài ra hai bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và đã khắc phục được một phần hậu quả cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, khi quyết định hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 trực tiếp bồi thường cho bị hại Trương Ngọc H1 toàn bộ số tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo và được bị hại H1 viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bản thân các bị cáo đều là lao động trong gia đình, bị cáo T có mẹ đang bị bệnh ung thư, gia đình có người thân có công với cách mạng (có xác nhận của Ủy ban nhân dân có thẩm quyền), do vậy, bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại các điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Với các tình tiết giảm nhẹ mới nêu trên, Hội đồng xét xử thấy mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đối với bị cáo T và 02 (hai) năm 06 (sáu) đối với bị cáo T1 mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc. Từ đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo và sửa án Bản án sơ thẩm theo hướng giảm cho các bị cáo một phần hình phạt, cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe đối với các bị cáo. Nhận định trên cũng là cơ sở để không chấp nhận yêu cầu kháng cáo cho các bị cáo được hưởng án treo, đối với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Xét về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Nguyễn Văn T đã bồi thường các khoản tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên trực tiếp cho bị hại H1 số tiền là 36.015.820 đồng (ba mươi sáu triệu không trăm mười lăm ngàn tám trăm hai mươi đồng) và bị cáo Lê Văn T1 đã bồi thường các khoản tiền mà bản án sơ thẩm đã tuyên trực tiếp cho bị hại H1 số tiền là 41.015.820 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm mười lăm ngàn tám trăm hai mươi đồng) và được bị hại Trương Ngọc H1 viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì khác, như vậy là các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 đã hoàn thành nghĩa vụ bồi thường cho bị hại, nên Hội đồng xét xử sửa án phần trách nhiệm dân sự là phù hợp với các quy định của pháp luật.

[5] Lập luận trên đây cũng là căn cứ để không chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về việc không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và y bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1.

[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

  1. Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1. Đồng thời sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Xử phạt:

    2.1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

    2.2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Căn cứ các Điều 357, 468; 584; 585; 587; 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ tư pháp; Bộ T5,

    Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn T đã trực tiếp bồi thường cho bị hại Trương Ngọc H1 số tiền là 36.015.820 đồng (ba mươi sáu triệu không trăm mười lăm ngàn tám trăm hai mươi đồng) và bị cáo Lê Văn T1 đã trực tiếp bồi thường cho bị hại Trương Ngọc H1 số tiền là 41.015.820 đồng (bốn mươi mốt triệu không trăm mười lăm ngàn tám trăm hai mươi đồng). Các bị cáo đã hoàn thành về trách nhiệm bồi thường đối với bị hại Trương Ngọc H1.

  4. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và 23 của Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án,

    Các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn T1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM; (1)
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM; (1)
  • - TAND huyện Hóc Môn; (1)
  • - VKSND Tp.HCM; (3)
  • - VKSND huyện Hóc Môn; (1)
  • - P.PV06 - CA Tp.HCM; (1)
  • - Chi cục THA huyện Hóc Môn; (1)
  • - Bị cáo; (2)
  • - Công an huyện Hóc Môn; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (21) (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hồng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 269/2023/HS-PT ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 269/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trường bị xử phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger