|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 269/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-8-2023. |
|
|
“V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Hải Minh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Hoàng Thị Hường |
| Bà Hồ Thị Thanh Thủy. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 238/2023/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1988; địa chỉ: xúm B, xó H, huyện H, tỉnh Nghệ An; hiện đang cư trú tại: Rhin Stra P 143 BecLin, Liên Bang Đ – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Trương Thị V, sinh năm: 1995; địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, giấy ủy quyền (có chứng thực của Đ tại Đức), nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày:
Anh và chị Trương Thị V kết hôn với nhau vào ngày 28/7/2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc và sinh được một con chung. Đến tháng 8 năm 2020 anh Q đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Liên Bang Đ, do khoảng cách địa lý, vợ chồng sống xa nhau và không tin tưởng lẫn nhau nên thường phát sinh mâu thuẫn, hai bên gặp nhiều bất đồng trong quan điểm cũng như cách sống, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc dần rơi vào tình trạng bế tắc trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ đó, vợ chồng không còn thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, đến đầu năm 2023 anh Q và chị V không liên lạc gì với nhau nữa. Hiện tại, anh Q tự nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trương Thị V.
Về con chung: Anh và chị Trương Thị V có 01 con chung là Nguyễn Mẫn N, sinh ngày 15/02/2019. Hiện con chung Nguyễn Mẫn N đang ở với chị V. Nếu vợ chồng ly hôn, anh Q đề nghị giao con cho chị V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Mẫn N và anh Q có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng con con một tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện tại, anh Nguyễn Văn Q đang ở nước ngoài không có điều kiện về Việt Nam để trực tiếp tham gia phiên tòa để giải quyết ly hôn với chị V anh có đơn xin xét xử vắng mặt.
Theo bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn chị Trương Thị V trình bày:
Chị biết anh Nguyễn Văn Q nộp đơn xin ly hôn chị tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Chị đã nhận được các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc ly hôn cũng như thông báo thụ lý và các văn bản của Tòa án. Chị thừa nhận về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như anh Q trình bày. Chị và anh Q kết hôn với nhau vào ngày 28/7/2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với bố mẹ anh Q tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An hạnh phúc và sinh được một con chung. Tháng 8 năm 2020 anh Q đi làm ăn tại Liên Bang Đ. Sau khi anh Q đi chị V đưa con về nhà mẹ của chị V sinh sống cho đến nay. Do khoảng cách về địa lý, vợ chồng sống xa nhau và không tin tưởng lẫn nhau nên thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm cũng như cách sống, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc dần rơi vào tình trạng bế tắc trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ đó, vợ chồng không còn thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Hiện tại cuộc sống xa cách mỗi người một nơi, anh Q không chịu về Việt Nam sinh sống cùng vợ, con. Chị V nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nếu kéo dài thì vợ chồng cũng không hạnh phúc nên anh Q yêu cầu ly hôn chị đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Q có 01 con chung là Nguyễn Mẫn N, sinh ngày 15/02/2019. Hiện con chung Nguyễn Mẫn N đang ở với chị V và được chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu vợ chồng ly hôn, chị V có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Mẫn N và Yêu cầu anh Q có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị V một tháng 5 triệu đồng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Nguyễn Văn Q không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay, chị Trương Thị V đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam nhưng do phải đi làm ăn và không thể về để trực tiếp giải quyết việc ly hôn với anh Q. Do đó, chị đề nghị Tòa xét xử vụ án vắng mặt chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn Q đang cư trú tại nước Đức đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trương Thị V có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam; trước xuất cảnh, anh Q có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Vụ án không tiến hành hòa giải được vì anh Nguyễn Văn Q không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài và đương sự đề nghị không hòa giải là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Văn Q đang cư trú tại nước Đức nhưng đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; địa chỉ cư trú: xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, giấy ủy quyền, tài liệu (có chứng thực của Đ tại Đức) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị Trương Thị V có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã viết bản tự khai và nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nhưng do phải đi làm ăn xa nên chị có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về các tài liệu và chứng cứ mà các bên đã cung cấp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung: Anh Q và chị V kết hôn với nhau vào ngày 28/7/2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với bố mẹ anh Q tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An hạnh phúc và sinh được một con chung. Tháng 8 năm 2020 anh Q đi làm ăn tại Liên Bang Đ, sau khi anh Q đi chị V đưa con về nhà mẹ của chị V sinh sống cho đến nay. Do vợ chồng sống xa nhau và không tin tưởng lẫn nhau nên thường phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng trong quan điểm cũng như cách sống, dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc và rơi vào tình trạng bế tắc trầm trọng.
Xét thấy, giữa anh Nguyễn Văn Q và chị Trương Thị V đã không quan tâm lẫn nhau và không yêu thương nhau. Do đó, hôn nhân của anh Q và chị V đã lâm vào trình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Nguyễn Văn Q yêu cầu giải quyết ly hôn với chị V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: Anh Nguyễn Văn Q và anh Trương Thị V có 01 con chung là cháu Nguyễn Mẫn N, sinh ngày 15/02/2019. Hiện cháu Nguyễn Mẫn N đang ở với chị V và được chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguyện vọng của chị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Mẫn N và yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con một tháng 5.000.000đ, anh Q cũng đồng ý giao con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị V mỗi tháng 5.000.000₫ đến khi con đủ tuổi trưởng thành.
Xét sự thỏa thuận về nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con chung của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Tòa ghi nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sư tự nguyện của các bên.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Văn Q và chị Trương Thị V không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.
[5]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014;
Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T1 về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Q.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Q và chị Trương Thị V được ly hôn.
- 2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
Anh Nguyễn Văn Q và chị Trương Thị V có 01 con chung;
Giao cho chị Trương Thị V được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Mẫn N, sinh ngày 15/02/2019 đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Nguyễn Văn Q có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Mẫn N mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đế khi con chung đủ tuổi trưởng thành.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- 3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Văn Q và chị Trương Thị V không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- 4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004310 ngày 18/7/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Văn Q đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- 5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Q và chị Trương Thị V có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hải Minh |
Bản án số 269/2023/HNGĐ-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 269/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
