Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 268/2024/HS-ST

Ngày: 24/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thúy

Ông Đỗ Đức Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 271/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn N, sinh năm 1988 (Tên gọi khác: Không)

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hồng V, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1966. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út. Vợ là Quách Thị H, sinh năm 1991 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ 14/6/2024 đến ngày 21/6/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại có mặt tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Anh Nguyễn Công H1, sinh năm 2004. Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện B, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn N và anh Nguyễn Công H1 là công nhân của Công ty F có địa chỉ tại khu công nghiệp V, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 13/6/2024, N đi đến tủ để đồ số I2-129 của N ở tầng 02 tòa nhà văn phòng của Công ty cất đồ vào làm việc. Tại đây, N thấy anh H1 đứng trước tủ để đồ số I2-121 và bấm mật khẩu tủ là “140”, mở tủ cất 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu xanh, phía sau của chiếc điện thoại được ốp bằng 01 chiếc ốp cao su trong suốt, viền màu đen vào tủ. Lúc này, N nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của anh H1 để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sau đó, N và anh H1 đi vào xưởng làm việc. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, N đi đến khu vực tủ để đồ số I2-121 của anh H1, quan sát xung quanh thấy không có người trông coi. N dùng tay phải xoay mật khẩu số “140” thì khóa tủ số I2-121 mở, N lấy chiếc điện thoại trên cất vào trong túi quần phía trước bên trái N đang mặc và đi xuống tầng 01 cất chiếc điện thoại trên vào tủ để đồ chung của công nhân. Sau đó, N quay lại xưởng tiếp tục làm việc. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, N đi ra vị trí tủ để đồ chung của công nhân lấy điện thoại của anh H1 cho vào trong 01 túi đeo chéo vai màu đen của N rồi đi về.

Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, anh H1 phát hiện bị mất chiếc điện thoại nêu trên đã trình báo anh Nguyễn Thế H2 là nhân viên thuộc bộ phân an ninh Công ty. Anh H2 kiểm tra camera an ninh, nghi ngờ N đã có hành vi trộm cắp tài sản của anh H1. Sau khi biết được Công ty F1 đã phát hiện việc N trộm cắp điện thoại nêu trên của anh H1. Ngày 14/6/2024, N đã đến Đồn Công an khu công nghiệp V1, phường P, thành phố T đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu xanh, dung lượng 128GB, số IMEI 357061224319567, lắp sim số 0325.569.942; 01 ốp điện thoại cao su trong suốt, viền màu đen và 01 túi đeo chéo vai, màu đen.

Cùng ngày, tại Công ty F1 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thu giữ 01 đoạn video có phản ánh nội dung liên quan đến vụ trộm cắp ngày 13/6/2024, được trích xuất từ camera an ninh của Công ty F được lưu trữ trong 01 đĩa VCD. Ngày 26/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T cho bị cáo xem đoạn video ghi lại nội dung sự việc trộm cắp tài sản xảy ra ngày 13/6/2024 tại Công ty F1. Ngân xác định N đúng là người đã thực hiện hành vi.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá thường xuyên Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận tại thời điểm định giá tháng 6/2024: “01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu xanh, dung lượng 128GB, số IMEI 357061224319567 (đã qua sử dụng) có giá trị là: 12.000.000 đồng; 01 (một) ốp điện thoại cao su trong suốt, viền màu đen (đã qua sử dụng), có giá trị là: 20.000 đồng. Tổng giá trị của các tài sản nêu trên là: 12.020.000 đồng.”

Bản Cáo trạng số 184/CT-VKS-TS ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận khi đang cất đồ để vào công ty làm việc, bị cáo đã nhìn thấy mật khẩu tủ đựng đồ của anh H1 khi anh H1 đang mở khóa tủ đồ nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm tài sản của anh H1 để chi tiêu cá nhân. Đến giờ nghỉ trưa, bị cáo đi đến tủ đồ của anh H1 và quan sát thấy không có ai nên bị cáo đã mở khóa bằng mật khẩu đã nhìn thấy từ trước rồi lấy 01 chiếc điện thoại của anh H1 cất vào túi quần phía trước bên trái rồi đi xuống tầng cất vào tủ đồ chung của công nhân và đi vào làm việc bình thường. Hết giờ làm việc bị cáo ra lấy điện thoại cất vào chiếc túi đeo chéo vai, màu đen và đi về. Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá của Hội đồng định giá. Bị cáo thừa nhận Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tôi, đúng pháp luật.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh H1 không yêu cầu.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 túi đeo chéo vai, màu đen.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn.

Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/6/2024, tại tủ để đồ cá nhân số I2-121 của anh Nguyễn Công H1 ở hành lang tầng 02 toà nhà văn phòng Công ty F có địa chỉ tại khu công nghiệp V, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Phạm Văn N đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, vỏ màu xanh, dung lượng 128GB, số IMEI 357061224319567, lắp sim số 0325.569.942 và 01 ốp điện thoại cao su trong suốt, viền màu đen của anh H1. Tổng giá trị tài sản N trộm cắp của anh H1 là 12.020.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn cụ thể trong công ty F, tạo ra tâm lý bất an cho những công nhân đang làm việc trong công ty. Do đó, cần phải xử phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội.
  4. [4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân nên đã đến Đồn Công an khu công nghiệp V1, phường P đầu thú. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung ngân sách nhà nước nhưng xét thấy bị cáo hiện chưa có việc làm, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  6. [6] Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt và loại hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
  7. [7] Về trách nhiệm dân sự: Chiếc điện thoại đã được thu hồi trả cho người bị hại. Bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  8. [8] Về vật chứng: Đối với 01 túi đeo chéo vai, màu đen bị cáo sử dụng cất giấu chiếc điện thoại trộm cắp không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  9. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  10. [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 túi đeo chéo vai màu đen.
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 268/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 268/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger