TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 268/2024/DS-PT
Ngày: 14-11-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Keo
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Ngọc Giao và ông Nguyễn Hoàng Thám
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 220/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST, ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 258/2024/QĐXXPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc C, sinh năm: 1972; địa chỉ cư trú: Số I, Lê Công T, tổ C, khóm F, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn gồm:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Tổ F, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang (theo Văn bản ủy quyền ngày 15/5/2024).
- Bà Trần Thị Cẩm T1, sinh năm 1998; địa chỉ cư trú: Khóm H, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: Lý Tự T2, hẻm H, khóm C thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang (theo Văn bản ủy quyền ngày 15/5/2024).
2. Bị đơn:
2.1 Ông Trịnh Cốc H, sinh năm: 1967;
2.2 Bà Nguyễn Thị G (Gái Chị), sinh năm: 1970;
Cùng địa chỉ cư trú: Tổ G, khóm T, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
3. Người kháng cáo: Ông Trịnh Cốc H là bị đơn.
(Tại phiên tòa có mặt bà N ông H, bà G (Gái chị), vắng mặt bà T1,
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 17/5/2024 với các tài liệu kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Trần Ngọc C và người đại diện theo uỷ quyền cho bà C là bà Nguyễn Thị N trình bày:
Do quan hệ quen biết qua làm ăn từ trước, nên bà C có cho vợ chồng ông H – bà G vay tiền để làm vốn kinh doanh. Bà C cho ông H – bà G vay nhiều lần, nhưng vay rồi trả. Lần sau cùng là ngày 20/8/2023 bà C cho vay 580.000.000 đồng, với thỏa thuận lãi suất 03% tháng và hẹn 03 tháng sau sẽ thanh toán, nhưng từ đó về sau ông H – bà G không thực hiện.
Đến ngày 20/11al/2023 sau khi đòi xiết thì bà G mới ký cam kết trả thành 02 khoản: Khoản tiền thứ nhất: 520.000.000 đồng trả mỗi ngày 1.000.000 đồng, đến khi dứt nợ; khoản tiền thứ hai 60.000.000 đồng trả lãi 6% tháng và đến ngày 29/01al/2024 trả dứt nợ vốn.
Tuy nhiên, từ đó đến nay ông H – bà G chỉ trả được 20.000.000 đồng của khoản vay phần 520.000.000 đồng (trả lắc nhắc từ tháng 01/2024 đến tháng 4/2024), rồi không trả nữa.
Nay bà C yêu cầu ông H – bà G phải thanh toán ngay số tiền còn lại 560.000.000 đồng cùng với lãi suất tương ứng theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Trịnh Cốc H trình bày:
Ông là chồng của bà Nguyễn Thị G (Gái Chị). Việc vợ ông vay tiền của bà C như thế nào thì ông hoàn toàn không biết. Trước đây thấy bà C có vào nhà trò chuyện với vợ ông, ông nghi ngờ và có hỏi thì vợ ông nói là bà Châu định đưa tiền lãi 3% tháng và bảo vợ ông cho lại bên ngoài lãi 5% tháng để nhận phần chênh lệch thì ông không cho, sau đó ông nhiều lần điện thoại cho bà C để hỏi thì chính bà C cũng nói là không có vợ ông vay trừ khi có sự đồng ý của ông thì bà C cũng hứa.
Tuy nhiên, vào tháng 8/2023 vừa qua thì phát hiện vợ ông có nợ bên ngoài tổng cộng 671.000.000 đồng, trong đó có phần nợ của bà C 210.000.000 đồng và sau đó có nghe con trai gửi cho vợ ông trả cho bà C 70.000.000 đồng vậy thôi, còn mọi việc như thế nào thì ông không biết.
Trong 210.000.000 đồng thì vợ ông có nói trả được 40.000.000 đồng, chỉ còn lại 170.000.000 đồng, ông chỉ thừa nhận khoản nợ này và đồng ý chịu trách nhiệm liên đới với vợ ông trả cho bà C, còn việc bà C yêu cầu trả 560.000.000 đồng là ông không đồng ý.
Bị đơn bà Nguyễn Thị G (Gái Chị) đã được thông báo hợp lệ để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà vắng mặt.
Tại biên bản lời khai ngày 01/7/2024 bà G trình bày:
Bà là vợ ông H, việc vay tiền của bà C là do bà trực tiếp không liên quan đến ông H. Nội dung: Từ năm 2019 đến năm 2022 bà vay tất cả 04 lần. Cụ thể:
Lần 1: Ngày 18/7al/2019 vay 310.000.000 đồng, lần 2: Ngày 06/10al/2019 vay 160.000.000 đồng, lần 3: Ngày 20/12al/2020 vay 50.000.000 đồng và lần 4: Ngày 06/9al/2022 vay 150.000.000 đồng.
Khi vay bà có ký nhận nợ với bà C, sổ nhận nợ do bà C giữ và trong các lần vay trên thì 03 lần vay đầu (310.000.000 đồng + 160.000.000 đồng + 50.000.000 đồng) thỏa thuận lãi suất 3% tháng với mục đích cho người khác vay lại lãi suất cao hơn để hưởng tiền chênh lệch sử dụng chung trong gia đình. Riêng lần vay sau cùng (150.000.000 đồng) thì bà sử dụng để đáo hạn Ngân hàng mà bà đã cùng ông H thế chấp tại V, với lãi suất của phần vay này là 6% tháng.
Sau khi vay bà có trả lãi và lâu lâu cũng có trả vốn cho bà C, đến cuối năm thì hai bên kết sổ nợ với nhau, mỗi khi kết sổ thì bà C có yêu cầu bà ký lại biên nhận mới, cứ như vậy bà tiếp tục trả lãi đến ngày 20/11al/2023 không khã năng trả nữa thì bà C yêu cầu bà ký nhận nợ chia làm 02 khoản như bà C trình bày.
Đối khoản vay 520.000.000 đồng thì bà có trả được 20.000.000 đồng vốn, còn khoản vay 60.000.000 đồng thì chưa trả khoản nào. Nay do người khác không trả cho bà nên bà không tiền trả lại cho bà C, hơn nữa bà cũng trả lãi cho bà C số tiền lớn, nên nay xin giảm đứt tiền lãi và giảm 50% tiền vốn, còn lại 280.000.000 đồng, hẹn 03 năm sau trả dứt nợ cho bà C.
Giai đoạn hòa giải: Hai bên thống nhất tiền vốn còn lại 560.000.000 đồng, nhưng không thống nhất thời gian bắt đầu vay, tiền lãi đã trả. Cụ thể: Bà C yêu cầu trả vốn 560.000.000 đồng cùng với lãi suất tương ứng thời gian vay theo quy định, còn ông H – bà C xin giảm đứt tiền lãi và giảm 50% tiền vốn, còn lại 280.000.000 đồng, hẹn 03 năm sau trả dứt nợ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã xử:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 288 Bộ luật Dân sự 2015; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu khởi kiện của bà Trần Ngọc C.
Buộc ông Trịnh Cốc H – bà Nguyễn Thị G (Gái Chị) có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Ngọc C 614.333.500 đồng (Sáu trăm mười bốn triệu, ba trăm ba mươi nghìn, năm trăm đồng).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi, theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, tương ứng với thời gian và khoản tiền chưa thi hành án.
Về án phí: Ông Trịnh Cốc H – bà Nguyễn Thị G phải cùng chịu 28.573.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn hoàn trả cho bà Trần Ngọc C 13.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0012544 ngày 20/5/2024.
Bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
Ngày 01/8/2024, ông H kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án theo trình tự phúc thẩm, ông chỉ chịu trách nhiệm liên đới 170.000.000₫.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn, đại diện cho nguyên đơn không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới, không thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án.
- Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc chấp hành pháp luật của đương sự, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: ông Trịnh Cốc H kháng cáo chỉ đồng ý trả 170.000.000đ, ông có cung cấp bản photo hình ảnh chứng minh bà G có trả lãi nhiều lần, nhưng tại phiên toà phúc thẩm, bà G xác nhận chuyển trả lãi trước thời điểm lập biên nhận ngày 20/11/2023al, nên không chứng minh được bà G chuyển trả cho số tiền 170.000.000đ; ông H không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới nên ông H kháng cáo không có cở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm; ông H phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Trịnh Cốc H trong hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét nội dung đơn theo trình tự phúc thẩm. nguyên đơn bà Trần Ngọc C, bị đơn bà Nguyễn Thị G không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị đối với bản án sơ thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Trịnh Cốc H, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Hợp đồng vay tài sản giữa hai bên có lập thành văn bản, thỏa thuận vay trên nguyên tắc tự nguyện phù hợp pháp luật, nên được xem là hợp đồng vay hợp pháp.
Bà G thừa nhận đã ký nhận nợ vay là ngày 20/11al/2023, số tiền vay 580.000.000 đồng, có trả 20.000.000 đồng, còn lại 560.000.000 đồng, bà không trả tiền gốc và tiền lãi từ thời điểm xác lập biên nhận nợ ngày 20/11al/2023 nên cấp sơ thẩm chấp nhận khởi kiện của bà C là có căn cứ.
Cấp sơ thẩm tính lãi kể từ ngày 20/11al/2023 (tương đương tháng 01/2024) đến nay tháng 7/2024 là có lợi cho bên bị đơn. Lãi suất theo quy định hiện nay là 20% năm. Tổng số tiền gốc và lãi mà bà G có nghĩa vụ phải trả cho bà C là: 560.000.000 đồng + 56.000.000 đồng = 616.000.000 đồng là có căn cứ. Cấp sơ thẩm cũng đã xem xét tính lại phần trả lãi và khấu trừ phần lãi vượt quá quy định với số tiền: 1.666.500 đồng nên buộc ông H bà G có nghĩa vụ liên đới phải trả 614.333.500 đồng là phù hợp quy định pháp luật.
[3] Về nghĩa vụ liên đới thanh toán: Bà G thừa nhận sử dụng tiền vay của bà C là cho người khác vay lại với lãi suất cao hơn nhằm nhận tiền chênh lệch sử dụng chung cho gia đình cũng như sử dụng một phần trong tiền vay đó của bà C để trả khoản nợ mà bà và H đã thế chấp tại Ngân hàng; bà G còn cam kết sẽ bán đất, máy cày để trả nợ; không có thoả thuận giữa bà C với bà G loại trừ nghĩa vụ trả nợ vay của ông H. Ông H kháng cáo ông chỉ có nghĩa vụ liên đới 170.000.000đ trong tổng số nợ 560.000.000 đồng nhưng ông không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông H phải chịu 300.000 đ án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trịnh Cốc H
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 32/2024/DS-ST ngày 19/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tri Tôn.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu khởi kiện của bà Trần Ngọc C.
Buộc ông Trịnh Cốc H – bà Nguyễn Thị G (Gái Chị)nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Ngọc C 614.333.500 đồng (Sáu trăm mười bốn triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, năm trăm đồng).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi, theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dânsự 2015, tương ứng với thời gian và khoản tiền chưa thi hành án.
Về án phí: Ông Trịnh Cốc H – bà Nguyễn Thị G phải cùng chịu 28.573.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chi CụcThi hành án dân sự huyện T hoàn trả cho bà Trần Ngọc C 13.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0012544 ngày 20/5/2024.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012690 ngày 06/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Những nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Hội đồng xét xử đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Chí Keo |
Bản án số 268/2024/DS-PT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 268/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà C yêu cầu ông C, bà G trả số tiền 614.333.500 đồng
