TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 268/2024/HS-ST Ngày: 12/09/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Đoàn và ông Nguyễn Đình Hoàng
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Hoa - Thư ký TAND TP. V
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 09 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Vinh và điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 255/2024/HSST ngày 15 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 315/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Đình N; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1990 tại TP.V, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: xóm Đ, xã H, TP. V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đình Đ và bà Nguyễn Thị L; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Đặng Thị Thu H – sinh năm 1990, có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/05/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 16/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Phạm Đình N liên lạc qua ứng dụng telegram cho một người đàn ông tên B (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 3.000.000 đồng ma túy đá để sử dụng. B yêu cầu N chuyển khoản cho B trước thì mới giao ma túy. N đi đến quán nước đối diện trường Cao đẳng S thuộc xã H, TP. V và đưa 3.000.000 đồng cho một nam thanh niên (N không biết tên, tuổi, địa chỉ) nhờ chuyển khoản vào số tài khoản mà B đã cho trước đó (N không nhớ số tài khoản). Sau khi chuyển tiền xong, B hẹn N đến lấy ma túy ở khu vực gần trại Thương binh thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. N đến điểm hẹn thì gặp B đưa cho N 01 gói ma túy đá. Sau đó, N đi về nhà tại số A, ngõ A, đường H, xóm Đ, xã H, TP.V rồi lấy một ít ra sử dụng, số ma túy còn lại N chia thành 02 gói bỏ vào trong hộp kim loại màu xanh có chữ DOUBEMINT rồi cất giấu ở khu vực nhà vệ sinh tầng một. Đến khoảng 23 giờ ngày 22/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N đi đến khu vực cây xăng C, xã H, TP. mua 01 cóng thủy tinh với giá 90.000 đồng. Khi N vừa về đến trước cổng nhà thì bị tổ công tác Công an xã H yêu cầu kiểm tra, thu giữ trong túi quần N đang mặc 01 cóng thủy tinh màu trắng. N khai nhận đó là dụng cụ để sử dụng ma túy, đồng thời giao nộp 01 hộp kim loại màu xanh có chữ DOUBEMINT, bên trong có 02 gói ni lông màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng. Người cùng tang vật được dẫn giải về trụ sở Công an xã H, TP.V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Kết luận giám định số 567/KL – KTHS(Đ2-MT) ngày 28/05/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phạm Đình N gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 1,634 gam.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 cóng bằng thủy tinh màu trắng;
- 01 hộp kim loại màu xanh có chữ DOUBEMINT, bên trong có 02 gói ma túy.
Cáo trạng số 265/CT-VKS-TPV ngày 12/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Phạm Đình N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Phạm Đình N từ 15 – 18 tháng tù. Ngoài ra, đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên toà, bị cáo Phạm Đình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận gì. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 23 giờ 25 phút ngày 22/5/2024, tại nhà số A, ngõ A, đường H, xóm Đ, xã H, TP.V, tỉnh Nghệ An, Phạm Đình N đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,634 g ma túy (Methamphetamine) để sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, hành vi mà Phạm Đình N thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.
[2.2] Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm các quy định của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, giống nòi, là nguồn gốc gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất độc hại, Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng, vận chuyển nhưng vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm, tương xứng với tính chất hành vi và mức độ phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm gương răn đe những đối tượng khác. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có nhân thân tốt, có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bố của bị cáo là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học theo Giấy chứng nhận số 82245116 do Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh N cấp lại ngày 26/08/2020 nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm, để bị cáo thấy khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sửa chữa.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[2.4] Trong vụ án này, theo lời khai của Phạm Đình N thì số ma túy này N mua của người đàn ông tên B, N không biết lai lịch, địa chỉ của B nên Công an TP.V tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
[2.5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong có chứa ma túy thu giữ của Phạm Đình N là vật nhà nước cấm tàng trữ. Tịch thu tiêu hủy 01 cóng thủy tinh thu giữ của Phạm Đình N là công cụ phạm tội.
Đối với chiếc điện thoại N dùng để liên lạc mua ma túy, N đã làm mất từ trước khi bị bắt nên không có căn cứ để xử lý.
[2.6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt Phạm Đình N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/05/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong có chứa ma túy và 01 cóng thủy tinh thu giữ của Phạm Đình N. (Số vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 2024/268 ngày 21/08/2024).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Phạm Đình N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Hồ Nữ Hạnh Dung |
Bản án số 268/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 268/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 15 tháng tù
