Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 268/2024/DSST

Ngày: 21-8-2024

V/v: Tranh chấp

Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Công Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly
  2. Bà Phạm Thị Kim Hoàng

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 192/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Địa chỉ trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Gia T, sinh năm: 1971, địa chỉ: 8 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, là đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 1973/2024/UQ-TGĐ ngày 03/4/2024) (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Hứa Thị Thu L, sinh năm 1983; Địa chỉ: F Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 25/4/2024, bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 01/7/2024, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S do ông Trần Gia T là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 23/4/2019, bà Hứa Thị Thu L có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 40.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, loại thẻ Ladies First, số thẻ là 486265 - 9477, lãi suất áp dụng là 2.6%.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 59.411.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 36.902.236 đồng, cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/10/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 44.665.340 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại) và số tiền còn thiếu tính đến ngày 21/8/2024 là 125.898.275 đồng. Cụ thể: nợ gốc là 44.665.340 đồng, nợ lãi quá hạn là 81.232.935 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà L, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã có bản tự khai trình bày ý kiến yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Hứa Thị Thu L phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/8/2024 là 125.898.275 đồng. Cụ thể: nợ gốc là 44.665.340 đồng, nợ lãi quá hạn là 81.232.935 đồng, ngoài ra bị đơn còn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 22/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà Hứa Thị Thu L vắng mặt không có lý do dù đã được tống đạt hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham dự phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về trình tự thủ tục tố tụng dân sự: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo nguyên tắc xét xử; người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S buộc bà Hứa Thị Thu L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 21/8/2024 là 125.898.275 đồng. Cụ thể: nợ gốc là 44.665.340 đồng, nợ lãi quá hạn là 81.232.935 đồng.

Bị đơn phải thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 22/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, trả một lân ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Mức lãi suất quy định tại hợp đồng các bên đã ký.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, các lời khai, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện bà Hứa Thị Thu L trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Hứa Thị Thu L cung cấp thông tin trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019 bà ở tại địa chỉ F Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả kết quả cung cấp chứng cứ của Công an P, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, bị đơn Hứa Thị Thu L, sinh năm 1983 có hộ khẩu thường trú tại F Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử văng mặt tại phiên tòa, bị đơn bà Hứa Thị Thu L mặc dù Tòa án đã thực hiện triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần thứ nhất vào ngày 29/7/2024 và lần thứ hai vào ngày 21/8/2024 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng TMCP S và bị đơn là bà Hứa Thị Thu L.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1.1] Về yêu cầu trả nợ do vi phạm nghĩa vụ thanh toán:

Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019 có chữ ký của bà Hứa Thị Thu L cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn đã cấp tín dụng cho bà Hứa Thị Thu L với hạn mức 40.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ bà Hứa Thị Thu L đã thực hiện nhiều lần giao dịch với số tiền 59.411.000 đồng và đã thanh toán được 36.902.236 đồng, còn nợ số tiền 44.665.340 đồng. Sau đó bà L không thực hiện thanh toán đúng hạn theo thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019, mặc dù đã được Ngân hàng TMCP S nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà L vẫn không có thiện chí trả nợ nên Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà L và chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng

của Ngân hàng, Điểu 95 “chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ, miễn, giảm lãi suất” của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại

d) Phát hành thẻ tín dụng...”

Căn cứ thông báo khởi kiện ngày 22/8/2022 mà Ngân hàng TMCP S đã gửi cho bà Hứa Thị Thu L về việc yêu cầu bà L trả nợ, tuy nhiên bà L vẫn không thực hiện thanh toán cho nguyên đơn, như vậy có thể xác định bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như thỏa thuận trong hợp đồng mà các bên đã ký kết.

Xét, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Hứa Thị Thu L nhưng bà L vẫn không đến Tòa trình bày ý kiến và cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa nên căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bà L đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận các tài liệu chứng cứ, lời khai của nguyên đơn để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Như vậy, bị đơn bà Hứa Thị Thu L đã vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận nên phải chịu trách nhiệm dân sự đối với nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 351 của Bộ luật dân sự.

Do đó yêu cầu của Ngân hàng TMCP S buộc bị đơn bà Hứa Thị Thu L phải thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 21/8/2024 là 125.898.275 đồng. Cụ thể: nợ gốc là 44.665.340 đồng, nợ lãi quá hạn là 81.232.935 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.1.2] Về yêu cầu tiền lãi sau ngày xét xử sơ thẩm: Ngân hàng TMCP S yêu cầu bị đơn bà Hứa Thị Thu L tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 22/8/2024 trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019 cho đến khi thi hành án xong.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suấ quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015”.

Do đó yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, bị đơn bà Hứa Thị Thu L có nghĩa vụ tiếp tục trả tiền lãi cho nguyên đơn phát sinh từ ngày 22/8/2024 trên số tiền còn phải thi hành án

theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019 cho đến khi thi hành án xong.

[3.1.3] Về thời hạn trả nợ: Xét bà Hứa Thị Thu L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thời gian dài, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, nên bà Hứa Thị Thu L có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc và lãi ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.

[4] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tại phiên tòa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Hứa Thị Thu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu trả nợ khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019 đã được Tòa án chấp nhận.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 351, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S: Buộc bà Hứa Thị Thu L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 21/8/2024 là 125.898.275đ (một trăm hai mươi lăm triệu tám trăm chín mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi lăm đồng). Trong đó nợ gốc là 44.665.340đ (bốn mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi đồng), nợ lãi quá hạn là 81.232.935đ (tám mươi mốt triệu hai trăm ba mươi hai nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng).

Thời hạn thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 22/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, bà Hứa Thị Thu L còn phải trả cho Ngân hàng TMCP S khoản tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo mức lãi suất các bên thoả thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019. Trường hợp tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019 có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

2. Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Hứa Thị Thu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.294.914₫ (sáu triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn chín trăm mười bốn đồng) đối với yêu cầu trả nợ khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019 đã được Tòa án chấp nhận;

Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.939.875đ (hai triệu chín trăm ba mươi chín nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009935 ngày 20/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 6;
  • - Chi cục thi hành án dân sự Quận 6;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Công Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 268/2024/DSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 268/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S: Buộc bà Hứa Thị Thu L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 21/8/2024 là 125.898.275đ (một trăm hai mươi lăm triệu tám trăm chín mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi lăm đồng). Trong đó nợ gốc là 44.665.340đ (bốn mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi đồng), nợ lãi quá hạn là 81.232.935đ (tám mươi mốt triệu hai trăm ba mươi hai nghìn chín trăm ba mươi lăm đồng). Thời hạn thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 22/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, bà Hứa Thị Thu L còn phải trả cho Ngân hàng TMCP S khoản tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo mức lãi suất các bên thoả thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019. Trường hợp tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019 có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án. 2. Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hứa Thị Thu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.294.914đ (sáu triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn chín trăm mười bốn đồng) đối với yêu cầu trả nợ khoản vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/4/2019 đã được Tòa án chấp nhận; Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.939.875đ (hai triệu chín trăm ba mươi chín nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009935 ngày 20/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger