Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 268/2024/DS-PT

Ngày: 20/6/2024

V/v tranh chấp: “Đòi lại tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hoài Bình.

Các Thẩm phán: Ông Lương Phước Đại

Bà Lê Thị Minh Trang

- Thư ký phiên tòa: Thị Hoàng Oanh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 84/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/QĐXXPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T.

Địa chỉ: 2 Lô A, đường B Khu dân cư T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

Đại diện theo pháp luật: Bà Võ Thị Hồng G (Căn cứ Quyết định chỉ định người đại diện theo pháp luật của Toà án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ số: 07/2019/QĐ-CĐ ngày 25/01/2019).

Đại diện uỷ quyền: Ông Trần Văn S; sinh năm: 1982; Bà Huỳnh Thị Mỹ H; sinh năm: 1999 (Có mặt)

Cùng địa chỉ: 253AC2 Đường Số D, Khu dân cư C - H, Khu vực II, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh P; sinh năm: 1970.

Địa chỉ: B khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04/8/2023 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T (gọi tắt là Công ty T) cho rằng:

Ngày 06/3/2007, Công ty T có chuyển nhượng nhà và đất cho ông Huỳnh Thanh P 01 nền số 32 Lô T, đường C thuộc Khu dân cư L Khu Đô thị M, diện tích đất 4m x 20m = 80m², nhà xây dựng hoàn chỉnh một trệt, một lầu, kết cấu bê tông, cốt thép, nền lát gạch men ceramic, tường 20, mái tole, diện tích xây dựng 4m x 14m. Giá tiền 490.000.000₫.

Quá trình thực hiện hợp đồng:

Số tiền đã thu của ông P theo hợp đồng mua bán nhà đến ngày 04/11/2011 là 328.000.000đ. Ngoài ra, ông Huỳnh Văn P1 chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Hữu A theo Biên bản thoả thuận ngày 24/02/2009 và thoả thuận ông Nguyễn Hữu A sẽ trả nợ thay cho ông Huỳnh Thanh P số tiền 98.000.000đ. Như vậy, ông Huỳnh Thanh P còn nợ: 490.000.000₫ – 328.000.000₫ – 98.000.000₫ = 64.000.000₫.

Ngày 20/4/2013, ông P có viết giấy nhận nợ còn thiếu Công ty T số tiền 64.000.000₫ và cam kết dựa theo cam kết ngày 24/02/2009 trừ theo mỗi hợp đồng nhân công của ông P đã ký và đang thi công công trình cho Công ty T số tiền 30% giá trị mỗi hợp đồng.

Tuy nhiên, kể từ đó đến nay, ông P không thanh toán cho Công ty T đồng nào.

Nay Công ty T khởi kiện, yêu cầu ông Huỳnh Thanh P phải trả số tiền còn nợ của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là 64.000.000đ và lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật tạm tính từ ngày viết cam kết nợ 20/4/2013 đến ngày xét xử (26/01/2024) là: 66.220.800đ; tổng cộng: 130.220.800₫ (Một trăm ba mươi triệu hai trăm hai mươi ngàn tám trăm đồng) và tiền lãi tiếp theo đến khi thanh toán tất nợ.

Đối với việc ông Huỳnh Thanh P yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện thì nguyên đơn không đồng ý vì đây là tiền ông P còn nợ đối với việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của hợp đồng mua bán nhà, Công ty T yêu cầu ông P tính lãi chậm trả, không phải tính lãi theo tranh chấp hợp đồng vay tài sản nên việc áp dụng thời hiệu là không đúng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Thanh P cho rằng:

Trước đây ông có nhận xây dựng nhà và hạ tầng cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T, các bên có ký nhiều hợp đồng xây dựng. Sau đó, Công ty T có nợ ông một phần tiền và ông Võ Thành V là Giám đốc Công ty T có thoả thuận chuyển nhượng cho ông nhà và đất tại nền số 32 Lô T đường C, Khu dân cư L Khu Đô thị M với giá 490.000.000₫.

Quá trình thực hiện hợp đồng, khấu trừ các khoản ông đã thanh toán cho Công ty T là 328.000.000đ. Sau đó, ông chuyển nhượng lại nhà và đất này cho ông Nguyễn Hữu A. Theo biên bản thoả thuận ngày 24/02/2009 thoả thuận ông Nguyễn Hữu A sẽ trả nợ thay cho ông số tiền 98.000.000đ. Như vậy, ông còn nợ Công ty T số tiền 64.000.000₫.

Ngày 20/4/2013, ông có viết giấy nhận nợ còn thiếu Công ty T số tiền 64.000.000đ và dựa theo cam kết ngày 24/02/2009 trừ theo mỗi hợp đồng nhân công của ông đã ký và đang thi công công trình cho Công ty T số tiền 30% giá trị mỗi hợp đồng.

Sau khi ông ký cam kết năm 2013 thì ông tiếp tục xây dựng công trình cho Công ty T đến năm 2014, tiền bảo hành xây dựng của các Hợp đồng xây dựng của ông với Công ty T vẫn chưa thanh toán. Theo thoả thuận các hợp đồng xây dựng thì có hợp đồng giữ lại 5% tổng giá trị hợp đồng, có hợp đồng giữ lại 10% giá trị hợp đồng làm tiền bảo hành.

Đến năm 2015, ông Võ Thành V chết. Trong khoản thời gian từ năm 2016 đến năm 2017, ông nhiều lần liên hệ với người phụ trách quản lý dự án của Công ty T và bà Võ Thị Hồng G để đối chiếu các hạng mục ông dã xây dựng cho Công ty T để thanh toán tiền xây dựng cho ông nhưng phía Công ty T không thực hiện.

Từ giữa năm 2017 đến nay, giữa Công ty T và ông không còn liên hệ gì với nhau nữa nên ông nghĩ là Công ty T đã trừ khoản tiền 64.000.000₫ của ông vào tiền công trình xây dựng và bảo hành xây dựng của ông xong nhưng đến nay đã hơn 06 năm thì Công ty T khởi kiện yêu cầu ông thanh toán số tiền còn thiếu 64.000.000đ và lãi suất chậm trả từ ngày làm bien nhận 20/4/2013 đến nay là không phù hợp. Do đó, nay ông yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu khởi kiện 03 năm kể từ khi ông yêu cầu Công ty T đối chiếu các hạng mục để cấn trừ nợ ông còn thiếu nhưng Công ty T không thực hiện và hai bên chấm dứt liên hệ với nhau từ giữa năm 2017 đến nay.

Ông đồng ý trả số tiền còn nợ còn thiếu 64.000.000đ nhưng không đồng ý trả tiền lãi chậm thanh toán cho Công ty T.

Đối với các khoản tiền hợp đồng xây dựng và tiền bảo hành công trình xây dựng của Công ty T còn thiếu của ông, hai bên chưa đối chiếu nợ thì ông sẽ khởi kiện Công ty T trong vụ kiện khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần thơ đã quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T.

    Buộc ông Huỳnh Thanh P phải trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T số tiền 64.000.000đ (Sáu mươi bốn triệu đồng).

    Kể khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thanh toán tất nợ, ông Huỳnh Thanh P còn phải chịu tiền lãi chậm trả cho đến khi thi hành án xong, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả trong giai đoạn thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T về việc yêu cầu ông Huỳnh Thanh P phải trả tiền lãi chậm trả từ ngày 20/4/2013 đến nay là 66.220.800đ.

Ngoài ra bản án còn tuyên phần án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Đến ngày 31/01/2024 nguyên đơn Công ty T kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 buộc bị đơn ông Huỳnh Thanh P phải trả tiền lãi chậm trả tổng cộng là 66.220.800 đồng và tiếp tục trả lãi đên khi ông P trả nợ xong cho công ty.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm và đề nghị:

  • Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Kháng cáo của các nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; sửa án sơ thẩm. Ngoài ra còn đề nghị về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn vắng mặt. Mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ Điều 294, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự thể hiện vào ngày 20/4/2013, ông P có viết giấy nhận nợ còn thiếu Công ty T số tiền 64.000.000 đồng và dựa theo cam kết ngày 24/02/2009 trừ theo mỗi hợp đồng nhân công của ông P đã ký và đang thi công công trình cho Công ty T số tiền 30% giá trị mỗi hợp đồng. Tuy nhiên, từ đó đến nay, ông P không thanh toán đồng nào cho Công ty T nên ngày 04/8/2023, Công ty T khởi kiện đòi ông P phải trả số tiền còn nợ và lãi suất chậm trả từ ngày viết biên nhận nợ 20/4/2013 đến nay. Tòa án cấp sơ chấp nhận việc đòi lại nợ của Công ty T, buộc ông P có trách nhiệm trả cho công ty T số tiền 64.000.000 đồng là phù hợp. Đối với yêu cầu tính lãi chậm trả từ năm 2013 đến ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao quy định " Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác". Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng phía bị đơn không thanh toán tiền cho nguyên đơn là lỗi của nguyên đơn là chưa có căn cứ. Việc bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu đối với số tiền trên và không đồng ý trả lãi chậm trả là chưa phù hợp. Bởi lẽ, nguyên đơn khởi kiện đòi lại số tiền theo biên nhận nợ và yêu cầu tính lãi chậm trả theo khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 là đúng quy định.

Từ những căn cứ như trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Buộc ông P có trả nhiệm trả cho nguyên đơn tổng số tiền 130.220.800 đồng (gốc 64.000.000đồng và lãi chậm trả là 66.220.800đồng).

Nhận định của vị đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nội dung nhận định của Hội đồng xét xử nên sửa án sơ thẩm.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

Theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm và phúc thẩm là 130.220.800 đồng x 5% = 6.511.000đ (Sáu triệu năm trăm mười một ngàn đồng).

Án phí sơ thẩm và phúc thẩm nguyên đơn không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 2 điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa án sơ thẩm chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn Công ty TNHH T2.

Áp dụng:

  • - Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Điều 256, 427, 428,, 450, 451 Bộ luật Dân sự năm 2005
  • - Điều 149, 155, 429, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T.

    Buộc ông P có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tổng số tiền 130.220.800 đồng ( gốc 64.000.000đồng và lãi chậm trả là 66.220.800đồng).

    Kể khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thanh toán tất nợ, ông Huỳnh Thanh P còn phải chịu tiền lãi chậm trả cho đến khi thi hành án xong, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả trong giai đoạn thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  2. Về án phí tranh chấp dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

    Ông Huỳnh Thanh P phải chịu án phí: 6.511.000₫ (Sáu triệu năm trăm mười một ngàn đồng).

    Công ty Trách nhiệm hữu hạn T được nhận lại số tiền 3.176.000đ theo biên lai số 0003446 ngày 28/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

  3. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn Công ty TNHH T không phải chịu, được nhận lại số tiền 300.000 đồng tại biên lai thu số 0003250 ngày 01/02/2024 tại chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q. Cái Răng;
  • - Chi cục THA Q. Cái Răng;
  • - TAND Tp. Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ tại Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trương Hoài Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 268/2024/DS-PT ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về đòi lại tài sản

  • Số bản án: 268/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty T khởi kiện, yêu cầu ông Huỳnh Thanh P phải trả số tiền còn nợ của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là 64.000.000đ và lãi suất chậm trả theo quy định
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger