|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 268/2024/HS-ST Ngày 17-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Đức Lợi.
- Bà Hoàng Lệ Chi.
Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 162/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hưng T, sinh năm 1953 tại tỉnh Quảng Trị; thường trú: Số A, đường số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Cao đài; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Quang C (đã chết) và bà Nguyễn Thị P (đã chết); vợ tên Hồ Thị Minh T1, sinh năm 1962; có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1994; có 03 em ruột, lớn nhất sinh năm 1955, nhỏ nhất sinh năm 1962; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 29/12/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 08/02/2024, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Thúc Đ, sinh năm 1988 – Luật sư, Công ty L1, chi nhánh B, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.
Bị hại: Tổng công ty Đ2; địa chỉ: Số A, L, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1966; địa chỉ: Số A, L, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Võ Văn H, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1966. Vắng mặt.
- Ông Hàn Quốc L, sinh năm 1958. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hưng T là người bị cụt tay trái và mù mắt bên phải do bị tai nạn lúc còn nhỏ, không phải là thương binh.
Ngày 03/03/1992, Ủy ban nhân dân tỉnh S (nay là tỉnh Bình Dương) đã ban hành Quyết định số 22/QĐ-UB và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 14/92/GCN/SB giao cho L2 (nay là Tổng công ty Đ2) diện tích 230.000m² để sử dụng, xây dựng nhà ga A (nay là ga S). Tuy nhiên, việc giao đất cho ngành đường sắt thì Quân đoàn 4 không biết, dẫn đến ngày 22/6/1996, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 ban hành Quyết định số 1856/QĐ giao cho 11 hộ chính sách một khu đất ở khu vực đường số B ga S, từ km1709 đến km 1709 + 600, (tổng diện tích giao xác định là 4.400m²), lý do giao đất: Hỗ trợ làm kinh tế gia đình, trong 11 hộ được giao đất có ông Nguyễn Hưng T (hộ ông T thực tế không thuộc hộ chính sách hay thương binh), phần đất này chồng lẫn lấn vào đất đã có quyết định giao cho ngành đường sắt. Từ đó xảy ra tranh chấp giữa Quân đoàn D (11 hộ) và ngành đường sắt.
Năm 2001, Xí nghiệp Q (nay là Công ty cổ phần Đ3 trực thuộc Tổng Công ty Đ2) tiến hành xây tường rào bảo vệ đường sắt, ngăn cách đường sắt và đường giao thông tại địa chỉ đường số B, khu phố B, phường A, huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương, tổng chiều dài tường rào là 2558m, chiều cao 2m, kết cấu tường gạch Block (trước khi xây dựng xí nghiệp Q có phối hợp với địa chính huyện D để xác định mốc ranh đất xây tường rào, có bản vẽ chi tiết). Khoảng cách từ mép đường ray xe lửa ra đến bức tường là từ 16m nên đã chồng lên đất mà Quân đoàn 4 giao cho 11 hộ chính sách làm kinh tế.
Ngày 14/8/2003, Bộ D ban hành văn bản số 439/CV gửi Xí nghiệp Q đề nghị tháo dỡ bức tường rào nhưng Xí nghiệp Q chưa thực hiện nên diện tích đất trên tiếp tục tranh chấp. Ngày 16/05/2006, Bộ D ban hành văn bản số 220/CV-BTM gửi Tổng công ty Đ2, Công ty Đ3, Xí nghiệp Q yêu cầu di dời tường rào giao trả lại đất cho Quân Đ1 4. Ngày 23/5/2006, Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 2145/QG-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 22/QĐ-UB ngày 03/03/1992 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 14/92/GCN/SB, đồng thời giao cho ngành đường sắt quản lý 123.842,4m² gồm: 105.790m² đất bãi hàng và 18.052,4m² đất khác. Ngày 15/3/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành văn bản 602/UBND-KTN với nội dung: Thu hồi diện tích 4.400m² trước đây Quân đoàn 4 cho các hộ gia đình thương binh mượn làm kinh tế phụ gia đình, giao về Ủy ban nhân dân thị xã D (nay là thành phố D) hướng dẫn các hộ này lập thủ tục thuê đất làm kinh tế. Đến ngày 8/7/2013, Ủy ban nhân dân tỉnh B đã có ý kiến kết luận để giải quyết kết luận vụ việc về chồng lấn, tranh chấp khu 4.400m²: Khu đất này Quân đoàn 4 đã đưa ra ngoài quy hoạch đất quốc phòng. Hiện khu đất nằm trong quy hoạch đất đường sắt và tạm giao cho ngành đường sắt quản lý. Vì vậy, Ủy ban nhân dân tỉnh B chỉ đạo Sở TN-MT phối hợp với Ủy ban nhân dân thị xã D (nay là thành phố D) làm việc với ngành đường sắt để yêu cầu ngành đường sắt thiết lập quản lý khu đất, đồng thời xem xét hỗ trợ cho 11 hộ về tài sản trên đất và công gìn giữ tôn tạo; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi các văn bản trái với kết luận này, là theo thực trạng và phù hợp với quy định tại Khoản 6, Điều 83 Nghị định 181/2004/NĐ-CP.
Ngày 08/5/2014, Thanh tra chính phủ làm việc với Quân đoàn D xác định: Phần đất 4.400m², Quân đoàn D quản lý sử dụng không thuộc đất quốc phòng mà là đất do Ủy ban nhân dân tỉnh S giao cho Tổng Công ty Đ2. Quân đoàn D cũng xác nhận 11 hộ chính sách này không phải thương binh của Quân đoàn 4 nên Quân đoàn 4 không nắm hồ sơ và xác minh cụ thể của các thương binh này. Căn cứ kết luận thanh tra số 2868/KL-TTCP ngày 26/11/2014 của Thanh tra Chính Phủ đối với nội dung trên. Bộ D đã ban hành quyết định số 91/QĐ-BTL ngày 20/01/2015 thu hồi quyết định số 1856 ngày 22/6/1996 và ban hành Quyết định số 1567/QĐ-BTL ngày 2/12/2015 hủy Quyết định số 1856/QQĐ ngày 22/6/1996 về việc giao cho 11 hộ thương binh sử dụng với mục đích làm kinh tế phụ theo hình thức trồng trọt canh tác. Đến ngày 17/12/2015, Cơ quan Thanh tra Bộ D cùng chính quyền địa phương phường A đã lập biên bản ghi nhận sự việc tống đạt văn bản: Quyết định số 1567/QĐ-BTL ngày 2/12/2015 của Tư lệnh Quân đoàn 4 cho Nguyễn Hưng T, tuy nhiên Tạo từ chối không nhận. Do đó, Thanh tra Bộ D đã lập biên bản niêm yết Quyết định 1567/QĐ-BTL ngày 02/12/2015 của Tư lệnh Quân đoàn D, Bộ Q1 tại nhà Nguyễn Hưng T, địa chỉ số A, tổ C, khu phố A, phường A, thị xã D(nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương và niêm yết văn bản trên tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường A theo quy định.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 08/8/2023, T thuê xe cần cuốc của anh Võ Văn H để đập phá tường rào bảo vệ đường sắt, ngăn cách đường sắt và đường giao thông tại đường số B, khu phố B, phường A, thành phố D, với số tiền 2.000.000 đồng. Lúc này, ông T chỉ cho anh H bức tường cần đập phá, anh H điều khiển xe cần cuốc đập phá bức tường rào xây dựng bằng gạch block, cao 1,6m với chiều dài 21m (lý trình đường sắt km1709 + 150 – km1709 + 171) và một đoạn bức tường với chiều dài 9m (lý trình km1709 + 250 – km1709 + 259) tại đường số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Công an phường A nhận được tin báo về hành vi của Nguyễn Hưng T nên đến hiện trường và yêu cầu T dừng hành vi đập phá và mời T về Công an phường A để làm việc. Ngày 21/8/2023, Tổng Công ty Đ2 có văn bản số 2695 về việc xử lý việc gây mất trật tự, vi phạm phạm vi bảo vệ công trình đường sắt Quốc gia tại khu vực ga S đối với trường hợp của Nguyễn Hưng T. Ngày 26/8/2023, Công an phường A chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D để xử lý theo thẩm quyền.
* Kết luận định giá tài sản số 174 ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố D, kết luận: tường rào xây bằng gạch Lock (30m x 1.6m=48m²) xây dựng năm 2001 trị giá 31.200.000 đồng.
Đối với ông Võ Văn H được Nguyễn Hưng T thuê điều khiển xe cần cuốc để đập tường của Tổng Công ty Đ2, ông H không biết bức tường nói trên là của Tổng Công ty Đ2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý. Đối với số tiền 2.000.000 đồng chi phí đập phá ông H không yêu cầu Nguyễn Hưng T trả số tiền này.
* Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Đ2 yêu cầu Nguyễn Hưng T bồi thường số tiền 31.200.000 đồng hoặc xây dựng khôi phục nguyên hiện trạng bức tường.
Tại Cáo trạng số 179/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hưng T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, o, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hưng T bồi thường cho bị hại số tiền 31.200.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất về việc Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự và phát biểu quan điểm: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người cao tuổi hiện bị cụt một tay, mù một mắt; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả thiệt hại cho bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị hại không tham gia tranh luận và đồng ý nhận số tiền bồi thường mà bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Tại Kết luận số 2868/KL-TTCP ngày 26/11/2014 của Thanh tra Chính phủ đã xác định phần đất 4.400m² (chồng lấn với đất của 11 hộ thương binh trong đó có gia đình bị cáo đã được Quân đoàn 4 giao để phát triển kinh tế tại Quyết định số 1856/QĐ ngày 22/6/1996) không thuộc đất quốc phòng mà là đất của Ủy ban nhân dân tỉnh S (nay là Ủy ban nhân dân tỉnh B) giao cho Tổng Công ty Đ2, đồng thời Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 đã ban hành Quyết định số 91/QĐ-BTL ngày 20/01/2015 thu hồi Quyết định số 1856 và ban hành Quyết định số 1567/QĐ-BTL ngày 02/12/2015 hủy Quyết định số 1856, các quyết định trên đã được Quân đoàn D phối hợp với chính quyền địa phương niêm yết cho bị cáo vào ngày 17/12/2015. Năm 2001, Tổng Công ty Đ2 xây dựng bức tường rào gạch block trên phần đất này. Do đó có căn cứ xác định bức tường rào trên là tài sản của Tổng Công ty Đ2. Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 08/8/2023, bị cáo Nguyễn Hưng T có hành vi thuê xe cần cuốc để đập tường rào cao 1,6m với chiều dài 21m (lý trình đường sắt km1709 + 150 – km 1709 + 171) và một đoạn bức tường với chiều dài 9m (lý trình km1709 + 250 – km1709 + 259) tại đường số B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương trị giá 31.200.000 đồng của Tổng Công ty Đ2. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hưng T thuê xe cần cuốc đập phá một phần bức tường rào trị giá 31.200.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 179/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người cao tuổi (71 tuổi); bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, o, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người cao tuổi, hiện nay bị cụt 01 tay, mù 01 mắt.
[7] Trách nhiệm dân sự: Xét thiệt hại bức tường rào cao 1,6m với chiều dài 21m (lý trình đường sắt km1709 + 150 – km 1709 + 171) và một đoạn bức tường với chiều dài 9m (lý trình km1709 + 250 – km1709 +259), trị giá 31.200.000 đồng của bị hại là do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Quá trình tố tụng, bị hại yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường trị giá thiệt hại trên với số tiền 31.200.000 đồng, xét thiệt hại của bị hại là do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nên bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường là có căn cứ theo quy định tại các Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự. Bị hại đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An nên cần tuyên trả số tiền trên cho bị hại theo quy định.
[8] Về hình phạt chính: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, tuy nhiên xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, là người cao tuổi bị cụt 01 tay, mù 01 mắt, bị cáo có nhân thân tốt có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo đã có thời gian tạm giam cũng đủ sức răn đe giáo dục với bị cáo, sau khi được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, do đó Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo được tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không làm ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo.
[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”, xét thấy bị cáo là người cao tuổi, mức hình phạt chính cũng đã đủ sức răn đe giáo dục bị cáo đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không phạt bổ sung.
[10] Đối với ông Võ Văn H được Nguyễn Hưng T thuê điều khiển xe cần cuốc để đập tường của Tổng Công ty Đ2, ông H không biết bức tường là của Tổng Công ty Đ2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề nghị xử lý. Đối với số tiền 2.000.000 đồng chi phí đập phá ông H không yêu cầu Nguyễn Hưng T trả số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị cáo là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hưng T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, o, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hưng T 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Hưng T cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người đang chấp hành thời gian thử thách thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo Nguyễn Hưng T.
- Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Trả cho Tổng Công ty Đ2 31.200.000 (ba mươi mốt triệu hai trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001221 ngày 27/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hưng T được miễn án phí.
Bị cáo và bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |
Bản án số 268/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý làm hư hỏng tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 268/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hưng T phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản
