|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 268/2024/HNGĐ-ST Ngày 16-9-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt
Ông Nguyễn Văn Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2024/QĐ-ST ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 171/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 15/6/1989 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang lao động tại nước ngoài.
Chị T ủy quyền cho chị Hoàng Thị Hương L, sinh năm 2002; Địa chỉ: Lô A, LK37, khu đô thị P, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giao nhận tài liệu với Tòa án (văn bản ủy quyền ngày 04/5/2024).
2. Bị đơn: Anh Vi Văn T1, sinh ngày 16/9/1987 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai (có xác nhận của Tổng Lãnh sự quán nước C2 tại Hồ N và Ma Cao ngày 12/10/2023,) nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị, anh T1 được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 07/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh T1 làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ chồng cùng đi Đài Loan lao động đến năm 2019 cùng về nước sinh sống. Sau khi về nước vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng từ tháng 02/2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng vẫn chung sống cùng nhà. Tháng 10/2022 chị đi lao động tại Campuchia, kể từ thời điểm đó chị và anh T1 ít khi liên lạc với nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn chị và anh T1 nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 10/2022 đến nay chị và anh T1 không ai quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị về nước thăm gia đình, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Vi Văn T1.
Về con chung: Chị, anh T1 có 01 con chung là cháu Vi Trí C, sinh ngày 02/09/2011. Hiện tại cháu đang sống cùng anh T1 tại thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Để tránh làm ảnh hưởng và xáo trộn cuộc sống của cháu, sau khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị T trình bày: Do điều kiện công việc nên chị không có thời gian đến làm việc với Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang được. Vì vậy chị đề nghị được: Vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Chị ủy quyền cho chị Hoàng Thị Hương L, sinh năm 2002; Địa chỉ: Lô A, LK37, khu đô thị P, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang thay mặt chị giao nộp các tài liệu, văn bản chứng cứ, nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án và nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
Anh Vi Văn T1 là bị đơn đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh T1 không đến Tòa án làm việc cũng nhưng không cung cấp ý kiến đến Tòa án.
Tại biên bản làm việc ngày 02/7/2024 và ngày 23/7/2024 bà Nguyễn Thị T2 (mẹ anh T1) cung cấp: Anh T1, chị T được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh T1 có xảy ra mâu thuẫn, mâu thuẫn như thế nào thì bà không rõ. Hiện nay chị T đang lao động tại nước ngoài, từ khi đi đến nay chị T chưa về nước thăm gia đình lần nào. Vừa qua chị T có về thăm gia đình nhưng chị T về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, không về sinh sống cùng bà. Bà có khuyên bảo anh, chị nhưng không được. Anh T1 hiện đang đi làm công ty tại khu công nghiệp V, anh T1 làm công ty nào bà không rõ. Cuối tuần anh T1 vẫn về sinh sống cùng bà.
Anh T1 hiện đang sinh sống cùng bà, bà đã giao các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T1 nhưng không thấy anh T1 nói gì với bà.
Anh T1, chị T có 01 con chung là cháu Vi Trí C, sinh ngày 02/9/2011. Hiện nay cháu C đang sinh sống cùng bà và anh T1.
Cháu Vi T3 Công trình bày: cháu hiện đang sinh sống cùng bố, nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn sinh sống cùng bố.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn Thị T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Vi Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nguyễn Thị T; Biên bản làm việc với mẹ anh T1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Vi Văn T1 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không chấp hành quy định của pháp luật. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị T, anh T1 là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vi Văn T1.
Về con chung: Giao cháu Vũ Trí C1 cho anh Vi Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về tài sản, công nợ chung: Do chị T yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện xin ly hôn anh Vi Văn T1 và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Tại công văn số 11596/QLXNC-P3 ngày 05/6/2024 của Cục Q - Bộ C3 cung cấp, chị T có 13 lượt xuất nhập cảnh, lần gần nhất xuất cảnh ngày 04/6/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do đó, chị T được xác định là đang ở nước ngoài. Anh Vi Văn T1 là bị đơn có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có nguyên đơn là chị T ở nước ngoài, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về việc vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị T xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T.
Đối với bị đơn anh Vi Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với anh Vi Văn T1.
[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Vi Văn T1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 07/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh T1 phát sinh mâu thuẫn, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Vi Văn T1.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh T1, chị T chung sống với nhau hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn chị T, anh T1 cùng đi lao động tại nước ngoài, năm 2019 cùng về nước sinh sống. Sau khi về nước vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng từ tháng 2/2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Tháng 10/2022 chị T đi lao động tại Campuchia, kể từ thời điểm đó chị và anh T1 ít khi liên lạc với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn anh, chị nhiều lần nói chuyện để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được. Chị T xác định vợ chồng đã ly thân nhau thời gian dài không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1. Anh T1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không có ý kiến, không đến Tòa án làm việc và cũng không đến phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử xác định anh T1 đã từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của mình trong vụ án. Ngoài ra, Tòa án cũng xác minh tình trạng hôn nhân của anh T1, chị T thông qua gia đình thì được bà T2 là mẹ anh T1 cung cấp anh T1, chị T có mâu thuẫn từ lâu, hiện nay không còn liên lạc với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để xác định vợ chồng anh T1, chị T đã có thời gian dài không quan tâm, liên lạc với nhau, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp tình trạng hôn nhân thực tế cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
[5]. Về nuôi con chung: Chị T, anh T1 có 01 con chung là Vi Trí C, sinh ngày 02/9/2011. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng anh T1. Ly hôn, chị T đề nghị giao con chung cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu C có nguyện vọng được ở cùng bố.
Xét yêu cầu của chị T về việc giao con chung cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn, Hội đồng xét xử thấy: Chị T hiện đang lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Ngoài ra, từ khi sinh ra cho đến nay cháu C vẫn sinh sống cùng anh T1, cháu phát triển ổn định cả về thể chất lẫn tinh thần. Cháu C trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, để tránh sự xáo trộn trong cuộc sống và việc học tập và đảm bảo sự phát triển tốt nhất của con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị T. Giao cháu C cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là có căn cứ, phù hợp điều kiện thực tế và đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt và nguyện vọng của con chung cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản, công nợ chung: Do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Vi Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vi Văn T1.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Vi Trí C, sinh ngày 02/9/2011 cho anh Vi Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001209 ngày 23/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Anh Vi Văn T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 268/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 268/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị T và anh T
