|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 268/2024/DS-PT Ngày: 08 - 5 - 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Dương Tuấn Vinh
- Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Khương
- Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ri - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1337/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Mai T, sinh năm 1974. Địa chỉ: số F, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lý Bình Đ, sinh năm 1977. Địa chỉ: C N, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Văn bản ủy quyền ngày 22/3/2024). (Có mặt).
- Bị đơn:
- Bà Tạ Thị G, sinh năm 1932. Địa chỉ: số F ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Tân Trăng.
- Người đại diện hợp pháp của bà G: Ông Vương Tấn L, sinh năm 1961.
Địa chỉ: số A ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Văn bản ủy quyền ngày 21/9/2022). (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà G: Bà Sơn Thị P, là Luật sư của Văn phòng luật sư Ánh T1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh S. Địa chỉ: Số D Quốc lộ A, khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Vương Tấn L1 (đã chết).
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L1:
- Ông Vương Biên H, sinh năm 1995.
- Bà Vương Bảo H1, sinh năm 1998.
- Người đại diện hợp pháp của ông H và bà H1: Ông Nguyễn Kim L2, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Tài Trăng (Văn bản ủy quyền ngày 21/6/2022). (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trịnh H2, sinh năm 1955. Địa chỉ: số D, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Trịnh Thị Tuyết M, sinh năm 1960. Địa chỉ: số C, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Trịnh Thị Ngọc H3, sinh năm 1966. Địa chỉ: số G, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Trịnh Lâm N, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Võ Thị Thúy N1, sinh năm 1958. Địa chỉ: số B, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Trịnh Thị Mai C, sinh năm 1977. Địa chỉ: số B, ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Người đại diện ủy quyền của ông Trịnh H2, bà Trịnh Thị Tuyết M, bà Trịnh Thị Ngọc H3, bà Võ Thị Thúy N1, bà Trịnh Thị Mai C: Ông Trịnh Lâm N, sinh năm 1974. Địa chỉ: số F ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Văn bản ủy quyền ngày 05/11/2020). (Vắng mặt).
- Bà Vương Mỹ D, sinh năm 1951. Địa chỉ: số A H, V, S, M1, 56377 Hoa Kỳ.
- Ông Vương Tấn L, sinh năm 1961. Địa chỉ: số F ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông L: Bà Sơn Thị P, là Luật sư của Văn phòng luật sư Ánh T1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh S. Địa chỉ: Số D Quốc lộ A, khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt).
- Bà Vương Thị Mỹ N2, sinh năm 1955. Địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Dương Thị Mỹ N3, sinh năm 1967. Địa chỉ: ấp X, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Vương Mỹ L3, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Vương Thị Mỹ N2, bà Dương Thị Mỹ N3 và bà Vương Mỹ L4: Ông Nguyễn Kim L2, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp
M, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Văn bản ủy quyền ngày 09/11/2020). (Có mặt).
- Ông Vương Tấn T2 (đã chết).
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T2: Ông Vương Quang Đ1, sinh năm 1996. Địa chỉ: số E ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Vương Tấn Đ2, sinh năm 1958. (Đã chết năm 1996).
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Vương Tấn Đ2:
- Bà Dương Kim C1, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Hak S, sinh năm 1977. Địa chỉ: đang định cư tại Campuchia (không rõ địa chỉ)
- Ông Vương Quang M2, sinh năm 1982. Địa chỉ: E ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ: ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện M: Ông Lý Ngọc Thanh L5, Chức vụ Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M. (Theo văn bản ủy quyền ngày 28/12/2020)
- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện C: Ông Phạm Đức K, chức vụ Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C (Theo văn bản ủy quyền số 31/UB-UBND ngày 28/12/2020).
- Người kháng cáo: bị đơn bà Tạ Thị G và ông Vương Tấn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 17/12/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 8/6/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, ông Trịnh Lâm N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Trịnh Thị Mai T và đồng thời cũng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều trình bày:
Cha, mẹ của bà Trịnh Thị Mai T và ông là ông Trịnh N4 (chết năm 2019) và bà Lâm Thị S1 (chết năm 2014) có tổng diện tích đất 33.586m² thuộc các thửa đất số 87 (nay là thửa 118) diện tích 1.203 m² (theo đo đạc thực tế là 1.686,3m²), thửa 249, thửa 250, thửa 252, thửa 1114, cùng thuộc tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Nguồn gốc phần đất này là do cha, mẹ của bà T và ông sử dụng ổn định từ trước năm 1975, đến ngày 29/6/1996 thì được Ủy ban nhân dân huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 0059/QSDĐ cho hộ ông Trịnh N4. Sau đó đến ngày 19/7/2010, cha mẹ của bà T và ông đã lập di chúc cho bà T được thừa hưởng toàn bộ phần diện tích đất nêu trên sau khi cha, mẹ qua đời.
Cặp ranh đất của thửa số 87 (nay là thửa 118) của gia đình bà T là đất của gia đình bà Tạ Thị G. Trên cả hai phần đất này giữa các bên đã xây dựng nhà ở
và có tường xây để làm ranh. Khi cha, mẹ bà T còn sống và sử dụng đất thì giữa các bên không có tranh chấp. Tuy nhiên, sau khi cha mẹ bà T qua đời, phía gia đình bà Tạ Thị G lại tranh chấp đất và có ý định lấn chiếm một phần diện tích đất của gia đình bà T.
Cụ thể, do thửa đất số 87 (nay là thửa 118) của gia đình bà T mở rộng về phía sau, giáp thửa đất của bà T là thửa đất số 90 (nay là thửa 119) của gia đình bà G. Con của bà G là ông Vương Tấn L1 đã ngang nhiên đập phá hàng rào được xây dựng bằng tường gạch của gia đình bà T và có ý định lấn chiếm phần đất của gia đình bà T với diện tích đất ngang khoảng 06m x dài khoảng 17m = 102 m².
Trước đây bà Trịnh Thị Mai T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Tạ Thị G và ông Vương Tấn L1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Trịnh Thị Mai T phần đất có diện tích đất ngang khoảng 06m x dài khoảng 17m = 102 m², thuộc thửa đất số 87 (nay là thửa 118), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Buộc bà Tạ Thị G và ông Vương Tấn L1 khôi phục lại như hiện trạng ban đầu tường rào được gia đình bà T xây dựng bằng gạch, kết cấu tường 10, ngang khoảng 6m x cao 2m mà phía bà G, ông L1 đã đập phá trong quá trình lấn chiếm đất của bà T.
Khi khởi kiện bổ sung, bà T là nguyên đơn yêu cầu như sau:
- Bà đồng ý giao cho phía bà Tạ Thị G toàn bộ phần diện tích đất có tứ cạnh được Tòa án đã đo đạc thẩm định ghi trong sơ đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp do công ty TNHH H9 đo đạc tại thửa 90, diện tích 660,1m² (đo thực tế), mặc dù theo hồ sơ gốc tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S là thửa 119, diện tích chỉ có 470,1m². Yêu cầu trả lại diện tích 275,4m², tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, toàn bộ phần diện tích còn lại là phần đất hợp pháp của gia đình bà T, gia đình bà có xây dựng hàng rào bao quanh từ xưa đến nay vẫn nguyên vẹn.
- Yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I195202, số vào sổ 00016 do Ủy ban nhân dân huyện M (nay là C) cấp cho hộ ông Vương Đức L6 ngày 12/02/1997 để điều chỉnh lại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 01, diện tích 1.203m², theo số liệu mà Tòa án đã đo đạc thẩm định lại thực tế thửa 87, diện tích là 1.686,3m².
* Ông Vương Tấn L là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng trình bày:
Nguồn gốc phần đất của cả ông N4 và ba ông là Vương Đức L6 thì ông nghe nói lại là trước tiếp thu là của địa chủ Hà Văn H4, khoảng năm 1945 cả ông N4 và ba ông về xin một phần đất để ở. Hiện trạng sử dụng là nguyên thửa đều chạy dài từ kênh xáng Phụng Hiệp đến kênh hậu phía sau. Hai phần đất không có làm hàng rào ngăn nhưng có làm hàng rào phần phía sau kênh hậu và hàng rào hướng nam phần đất của gia đình ông, do xây dựng nhà không hết đất nên gia đình ông chỉ làm hàng rào đến cuối phần nhà bỏ trống phần phía sau nhưng vẫn có làm hàng rào thấp chăn nuôi heo để đi ra phía sau kênh hậu được. Do phần đất bỏ trống nên ba ông cho ông N4 mượn chất đống rơm nuôi trâu bò, lần lần ông N4 lấn chiếm sử dụng đến khi ba ông mất năm 2004 thì gia đình ông
N4 xây dựng công trình và xây dựng mộ trên đất nhằm lấn chiếm hết phần đất phía sau của gia đình ông. Do mẹ ông đã già yếu, các anh em ông thì ở riêng, đồng thời nghĩ tình làng xóm, xui gia nên không ngăn cản. Theo yêu cầu của nguyên đơn thì ông không đồng ý, nay ông thống nhất phần đất đã xây mộ thì ổn định cho gia đình nguyên đơn, chỉ yêu cầu nguyên đơn trả lại phần đất từ giáp mí mộ trở về hướng nam (giáp thửa 91) cho gia đình ông.
* Tại biên bản hòa giải ngày 12/01/2021, ông L2 là người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn trình bày:
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn, người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tung của bị đơn là ông Vương Tấn L1 có trách nhiện giao trả phần đất lấn chiếm có diện tích 275,4 m²thuộc thửa số 87 (nay thửa số 119), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng do nguyên đơn đang quản lý, sử dụng thì phía bị đơn không đồng ý.
Bị đơn có ý kiến như sau: Theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 28/7/1996 được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T3 Nên tại thửa số 87, tờ bản đồ số 01 có diện tích 1.203m², còn hộ ông Vương Đức L6 đã được đăng ký quyền sử dụng đất ngày 20/11/1996 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 90, tờ bản đồ số 01 có diện tích 970 m² cấp ngày 12/02/1997. Diễn biến quá trình đăng ký quyền sử dụng đất, ông L6 đăng ký sau ông N4 khoảng 4 năm, điều đáng nói giữa ông L6 và ông N4 khi có đơn đăng ký quyền sử dụng đất sau đó được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chêch lệch thời gian 7 tháng. Như vậy, phía ông L6 được cấp giấy sau nên không thể nào có việc lấn chiếm đất của nguyên đơn. Do đó, bị đơn yêu cầu Tòa án chia đôi cho hai bên sở hữu, đồng thời buộc bà T tháo gỡ hàng rào trả lại hiện trạng ban đầu cho bị đơn.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Vương Mỹ L4, bà Vương Thị Mỹ N5, bà Vương Thị Mỹ N2 đều trình bày: Các bà thống nhất với toàn bộ phần trình bày và ý kiến của ông L cũng như người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Kim L2.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trịnh Thị Tuyết M, bà Trịnh Thị Tuyết H5, ông Trịnh H2 đều trình bày: Các ông bà thống nhất với toàn bộ phần trình bày và ý kiến của bà T cũng như người đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Lâm N.
* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Vương Quang M2 không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn và đồng ý theo yêu cầu của ông L.
* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Vương Quang Đ1 thống nhất lời trình bày và yêu cầu của ông L.
* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Hak S và bà Dương Kim C1 không có ý kiến kể từ khi thụ lý vụ án đến nay.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Vương Mỹ D đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng không có ý kiến
đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện M do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M đại diện có ý kiến trả lời như sau:
Vào ngày 24/9/2008 thành lập huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo Nghị định số 02/NĐ-CP của Chính phủ. Đến ngày 01/01/2009 huyện C chính thức đi vào hoạt động, huyện M đã bàn giao toàn bộ hồ sơ, bản đồ, số sách liên quan đến đất đai cho huyện C để quản lý.
Từ năm 2009 đến nay huyện M không còn quản lý hồ sơ đất đai liên quan đến địa giới hành chính thuộc huyện C, nên không có cơ sở để cung cấp thông tin, chứng cứ cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng liên hệ với Ủy ban nhân dân huyện C (Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C) để được cung cấp thông tin.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C có ý kiến trả lời như sau: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 87, tờ bản đô số 01, diện tích 1.203m², loại đất: 300m² T (đất ở tại đô thị) và 903m² LNK (đất trồng cây lâu năm), đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, (nay là ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) do UBND huyện M cấp cho hộ Trịnh Nên ngày 29/6/1996 hiện không còn lưu tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2010 trở về trước Chi nhánh Văn phòng Đ đã chuyển về Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S để lưu trữ. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện C không có cơ sở để trả lời theo yêu cầu của Tòa án Nhân dân tỉnh Sóc Trăng liên quan đến trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sự khác biệt so với hiện trạng sử dụng thực tế. Ủy ban nhân dân huyện C đề nghị Tòa án Nhân dân tỉnh Sóc Trăng liên hệ Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
UBND huyện C không có ý kiến đối với việc bà Trịnh Thị Mai T yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 195202 do UBND huyện M (nay là huyện C) cấp cho hộ ông Vương Đức L6 ngày 12/02/1997. Đề nghị Tòa án Nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết vụ việc theo đúng quy định.
* Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S có ý kiến như sau:
Theo hồ sơ hiện đang lưu trữ tại Văn phòng đăng ký đất đai thì đất của hộ ông Trịnh N4 được UBND huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 959058 ký cấp ngày 29/6/1996 gồm có 05 thửa đất, trong đó có thửa đất số 87, bản đồ số 01, diện tích 1.203m², loại đất T+Lnk (300m² T +903 m² L) và đất của hộ ông Vương Đức L6 được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 195202 ký cấp ngày 12/02/1997 gồm có 03 thửa đất trong đó có thửa đất số 90, tờ bản đồ số 1, diện tích 970 m², loại đất T-Lnk (300m² T + 670m² L). 02 thửa đất nêu trên đều đất tọa lạc tại: ấp T, xã T, huyện M (nay là ấp T, thị trấn C, huyện C) tình Sóc Trăng.
Về nguồn gốc đất của hộ ông Trịnh N4 và hộ ông Vương Đức L6 được thể hiện là đất gốc theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất thiết lập năm 1992 và năm 1996 đã được Hội đồng đăng ký đất đai xã T xác nhận đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, việc cấp Giấy chứng nhận cho 02
hộ nêu trên là đúng trình tự thủ tục theo quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận.
Riêng Hồ sơ kỹ thuật thửa đất do Trung tâm K1 ký ngày 20/10/2006, thể hiện thửa đất số 118, tờ bản đồ số 7 có hình thể thửa đất khác với sơ đồ thửa đất số 87, tờ bản đồ 01 đã được UBND huyện M cấp Giấy chứng nhận cho hộ ông Trịnh N4 ngày 29/6/1996 (theo tòa cung cấp). Văn phòng đăng ký đất đai xét thấy Hồ sơ kỹ thuật thửa đất được Trung tâm K1 ký ngày 20/10/2006 chỉ là một trong các loại giấy tờ để làm cơ sở cho cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp đổi Giấy chứng nhận theo quy định nên chưa có cơ sở để trả lời về sự khác biệt theo yêu cầu của Tòa.
* Người làm chứng:
- Tại biên bản lấy lời khai ng ày 06/01/2021, bà Hà Thị Thu T4 trình bày: Bà với bà T bà con hơi xa, còn gia đình bà G thì bà không biết và không có mâu thuẫn với hai bên. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp giữa bà T và gia đình bà G là của ông Trịnh N4, ông N4 quản lý, sử dụng từ trước tiếp thu đến nay. Trong quá trình sử dụng gia đình ông N4 có xây dựng hàng rào bằng dây chì gai và sau đó xây tường làm ranh và không ai tranh chấp.
- Tại biên bản lấy khai ngày 06/01/2021, ông Thạch C2 trình bày: Ông không có thân nhân hai mâu thuân với gia đình hai bên và chỉ là người ở cùng xóm. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp giữa bà T và gia đình bà G là của ông Trịnh N4, ông N4 quản lý, sử dụng từ trước tiếp thu đến nay, ông N4 sử dụng phần đất để đóng rơm, làm chuồng trâu, chuồng bò, sau này không nuôi trâu, bò ông N4 để đất xây dựng mồ mã. Phần đất hai bên tranh chấp thì gia đình ông N4 có xây dựng hàng rào bằng dây chì gai làm ranh từ trước tiếp thu đến khi xây hàng rào bằng tường thì cũng không ai tranh chấp.
- Tại biên bản lấy khai ng ày 06/01/2021, ông Lâm Thái H6 trình bày: Ông không có mối quan hệ thân thích với gia đình hai bên và chỉ là người hàng xóm láng giềng sống lâu năm ở địa phương. Phần đất đang tranh chấp hiện nay giữa bà T và gia đình bà G có nguồn gốc là của ông Trịnh N4, ông N4 quản lý, sử dụng từ trước tiếp thu đến nay, có xây dựng hàng rào dây chì gai sau đó xây tường làm ranh sử dụng từ trước đến nay không ai ngăn cản. Phần đất trống này thường để đống rơm cho trâu, bò ăn. Đến khi ông N4 chết thì các con ông N4 vẫn tiếp tục sử dụng cho đến nay. Phần đất của gia đình bà G là chỉ xây dựng hết nhà ngoài ra không còn phần đất khác.
- Tại biên bản lấy khai ngày 06/01/2021, bà Kim Thị L7 trình bày: Bà không có mối quan hệ thân thích với gia đình hai bên và chỉ là người hàng xóm láng giềng. Phần đất đang tranh chấp hiện nay giữa bà T và gia đình bà G có nguồn gốc là của cha mẹ bà T (ông Trịnh N4), phần giữa hai bên có xây dựng tường rào làm ranh, thời điểm xây tường rào làm ranh không ai tranh chấp. Phần đất trống này thường để đống rơm làm chồng bò và hộ bà T sử dụng từ trước đến nay, lúc ông N4 chết thì phía ông L1 mới đòi đập phá hàng rào, đào mộ ông N4.
- Tại biên bản xác minh ngày 11/03/2022, ông Dương Huỳnh N6 trình bày: Ông không có thân nhân hay mâu thuẫn gì với gia đình hai bên. Theo ông được biết từ năm 1980 về trước bên bà G có làm chuồng trâu, chuồng bò, có bụi
tre và đóng rơm, sau năm 1980 thì chuồng trâu, chuồng bò, có bụi tre và đóng rơm không còn tồn tại nữa. Phần đất giáp ranh ông thì ông N4 có làm hàng rào cao khoảng 70cm và kéo lưới B40 lên cao và từ mí hàng rào qua ông có chừa lối đi 2m để đi ra sau, đến năm 2004 thì đập bỏ hàng rào và xây hàng rào mới giáp phần đất của ông không có chừa lối đi. Đối với phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc của ai và ai quản lý, sử dụng thì ông không biết.
- Tại biên bản xác minh ngày 11/03/2022, ông Dương H7 trình bày: Ông không có bà con thân thích hay mâu thuẫn gì với hai bên. Sau khi được xem sơ đồ hiện trạng thửa đất 87, 90 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai bên thì khoảng năm 13-14 tuổi ông biết trên phần đất tranh chấp có chuồng trâu, chuồng bò và đóng rơm của bà G nhưng không biết đất này của ai.
- Tại biên bản xác minh ngày 11/03/2022, ông S2 Công trình bày: Ông với vợ ông N4 là bà Lâm Thị S1 là bà con cô cậu ruột, bà G là lối xóm và không có mâu thuẫn gì với ai. Ông làm địa chính thị trấn T (trước là xã T) từ năm 1990 đến tháng 5/2006 thì nghỉ. Sau khi được xem sơ đồ hiện trạng thửa đất 87, 90 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai bên thì ông C3 cho rằng hàng rào từ số 11 qua số 12 do ông Vương Đức L6 xây trước năm 1975 bằng cột xi măng, kẽm gai, sau đó đến năm 2004 thì ông N4 xây hàng rào cặp bên hàng rào của ông L6 xây. Khi dã ngoại, thì ông N4 cho ông L6 sử dụng một phần đất đang tranh chấp và ông L6 có mở cửa hàng rào 2m để đi ra nấu rượu. còn việc ông N4 có cho ông L6 phần đất tranh chấp hay không thì ông không rõ cũng như nguồn gốc đất không biết là của ai. Còn Việc ông N4 xây hàng rào thì hai bên không có tranh chấp với nhau, còn việc giữa ông N4 thỏa thuận cho ông L6 sử dụng một phần đất tranh chấp thì ông chỉ nghe nói lại. Khi vợ chồng ông N4 chết thì có xây mồ mả cũng như có tráng xi măng trên phần đất tranh chấp thì không ai phản đối hay có tranh chấp gì.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mai T5, về việc yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 275,4 m² (theo đo đạc thực tế) thuộc thửa đất số 90 và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dung đất số I 195202, số vào sổ số 00016/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện M3 ỹ T6 (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Vương Đức L6 ngày 12/02/1997.
- Công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 275,4 m² (theo đo đạc thực tế) thuộc một phần thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T (nay là ấp T), xã T (nay là thị trấn C), huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng là của bà Trần Thị Mai T5. Hiện nay, bà T5 đang quản lý, sử dụng phần đất nêu trên. Phần đất có diện tích nêu trên, có số đo tứ cạnh như sau:
- - Hướng đông giáp thửa 90, có số đo 12,66m
- - Hướng tây nam giáp thửa 248, có số đo 9m
- - Hướng đông nam giáp thửa 91, có số đo 25,36m.
- - Hướng tây bắc giáp thửa 87, có số đo 25,75m.
(Kèm theo bản án là sơ đồ hiện trạng thửa đất do Công ty T7 Thành lập ngày 07-1-2021)
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dung đất số I 195202, số vào sổ số 00016/QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Vương Đức L6 ngày 12/02/1997 phần đất nêu trên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/01/2024, bị đơn bà Tạ Thị G và ông Vương Tấn L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: nguồn gốc đất tranh chấp do gia đình bị đơn sử dụng từ trước đến nay và đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó do hai gia đình có quan hệ quen biết, sui gia nên cho phía nguyên đơn sử dụng một phần và nguyên đơn đã lấn chiếm, đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Phía nguyên đơn trình bày: phần đất tranh chấp do gia đình tôi sử dụng từ trước đến nay, có làm hàng rào và chôn cất cha mẹ, sau đó nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận cho phía bị đơn. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định pháp luật.
- - Về nội dung: các tình tiết chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện phía nguyên đơn là người có quá trình sử dụng đất ổn định, hợp pháp từ trước đến nay, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp cho phía bị đơn là có sai sót. Bản án sơ thẩm là có căn cứ, đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bà Tạ Thị G và ông Vương Tấn L làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng theo quy định tại khoản 9 và khoản 14 Điều 26
và khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Do có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo quy định khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Xét về nội dung kháng cáo: các bên đương sự thống nhất phần đất tranh chấp theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng và sơ đồ hiện trạng thửa đất số 87 và số 90 cùng tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, cụ thể:
- [2.1] Tại thửa đất 87, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấpTrà Quýt, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng do nguyên đơn đang quản lý, sử dụng diện tích 1.410,9m² và diện tích 275,4m², thuộc một phần thửa 90 đang tranh chấp.
- [2.2] Tại thửa đất 90, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng do bị đơn đang quản lý, sử dụng có diện tích 660,1m².
- [2.3] Phần đất tranh chấp có diện tích 275,4 m², thuộc một phần thửa 90, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Có số đo tứ cận như sau: Hướng đông bắc giáp thửa đất số 90, có số đo 12,66 m; Hướng tây nam giáp thửa đất số 248, có số đo 9m; Hướng Đông nam giáp thửa đất số 91, có số đo 25,36m và H8 tây bắc giáp thửa số 87, có số đo 25,75m. Giá trị (275,4 m² x 90.000 đ/m²) là 24.786.000 đồng.
- [2.4] Tài sản và công trình trên đất tranh chấp do nguyên đơn xây dựng và có trồng cây, bao gồm:
- - Bức tường giáp với đất tranh chấp có kết cấu tường 10, diện tích chiều cao 1,5m x 12,66m;
- - Bức tường giáp thửa đất số 91 có diện tích cao 2m x 25,36m x tường 10;
- - Bức tường giáp thửa đất số 248 có diện tích cao 2m x 30,07m x tường 10; cả 03 bức tường do nguyên đơn xây dựng.
- - Cây trồng trên đất: Thiên tuế 02 cây, khế 01 cây, bông trang 01 cây, sung 02 cây, sa la 01 cây loại A, mai lớn 19 cây, mai nhỏ 04 cây (giống biên bản thẩm định ngày 24/3/2020).
- - Phần kiến trúc và công trình trên đất: Phần nhà mộ có kết cấu bê tông cốt thép, mái tole, một mặt xây tường 10, nền đá xây dựng năm 2007, có 02 ngôi mộ của ông Trịnh N4 và bà Lâm Thị S1.
- - Sân xi măng tráng năm 2013: Khối bê tông cùng mộ kích thước (2m x 0,3m x 0,42m) + (0,3 x 0,2 x 0,24)m + (0,8m x 2m x 0,6m) + (1,1 x 0,25 x 2)m =1,906 m².
- - Hồ cá: đường kính 2,9m x cao 0,6m.
[3] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất tại các thửa đất có liên quan đến việc tranh chấp tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (trong đó nguyên đơn đang sử dụng thửa đất 87 có diện tích 1.410,9m² và diện tích 275,4m² thuộc một phần thửa 90 đang tranh chấp). Nguồn gốc thửa đất số 87 và phần đất tranh chấp diện tích 275,4m² là do ông N4 và bà S1 sử dụng ổn định từ trước năm 1975, đến năm 1996 thì các bên được Ủy ban nhân dân huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đại diện bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp nghe nói lại là trước đây tiếp thu là của địa
chủ Hà Văn H4, khoảng năm 1945 cả ông N4 và ba ông về xin một phần đất để ở. Hiện trạng sử dụng là nguyên thửa đều chạy dài từ kênh xáng Phụng Hiệp đến kênh hậu phía sau, cho thấy các bên đều đã có thời gian sử dụng lâu dài, liên tục và khi đăng ký thì để là đất gốc, các bên đã được đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể là: Phần đất thuộc quyền sử dụng của hộ ông Trịnh N4 là thửa đất số 87, tờ bản đồ 01 có diện tích ghi trong Giấy chứng nhận cấp ngày 29/6/1996 là 1.203 m²; phần đất thuộc quyền sử dụng của hộ ông Vương Đức L6 theo Giấy chứng nhận cấp ngày 12/02/1997 là diện tích 970 m².
[4] Về hiện trạng và biến động đất đai, ông N4 sử dụng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 1.686,3 m² (trong đó thửa đất 87 có diện tích 1.410,9m² và diện tích 275,4m² thuộc một phần thửa 90 do ông L6 đứng tên đang tranh chấp).
[5] Nguyên đơn cho rằng cha, mẹ nguyên đơn là ông Trịnh N4 (chết năm 2019) và bà Lâm Thị S1 (chết năm 2014) có phần diện tích đất 33.586m² thuộc các thửa đất số 87 (nay là thửa 118), thửa 249, thửa 250, thửa 252, thửa 1114, cùng thuộc tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (trong đó thửa đất 87 nguyên đơn đang sử dụng có diện tích 1.410,9m² và diện tích 275,4m², thuộc một phần thửa đất 90 đang tranh chấp).
Nguồn gốc các thửa đất này là do ông N4 và bà S1 sử dụng ổn định từ trước năm 1975, đến năm 1996 thì được Ủy ban nhân dân huyện M (nay là huyện C), tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 0059/QSDĐ ngày 29/6/1996 cho hộ ông Trịnh N4. Sau đó, ông N4 và bà S1 lập di chúc cho bà T5 được thừa hưởng toàn bộ các thửa đất nêu trên sau khi hai cụ qua đời. Cặp ranh đất của thửa số 87 (nay là thửa 118) của gia đình bà T5 là đất của gia đình bà Tạ Thị G. Trên cả hai phần đất này giữa các bên đã xây dựng nhà ở và có tường xây để làm ranh. Khi ông N4 và bà S1 còn sống sử dụng đất thì giữa các bên không có tranh chấp. Tuy nhiên, sau khi hai ông bà qua đời, phía gia đình bà Tạ Thị G lại tranh chấp đất và lấn chiếm một phần diện tích đất của gia đình bà T5. Cụ thể, do thửa đất số 87 (nay là thửa 118) của gia đình bà T5 mở rộng về phía sau, giáp thửa đất của bà T5 là thửa đất số 90 (nay là thửa 119) của gia đình bà G. Con của bà G là ông Vương Tấn L1 đã ngang nhiên đập phá hàng rào được xây dựng bằng tường gạch của gia đình bà T5 và có ý định lấn chiếm phần đất của gia đình bà T5 theo đo đạc thực tế có diện tích 275,4m².
[6] Bị đơn bà Tạ Thị G có người đại diện theo ủy quyền là ông Vương Tấn L cũng đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai:
Nguồn gốc đất tranh chấp là ông nghe nói trước đây tiếp thu là của địa chủ Hà Văn H4, khoảng năm 1945 ông N4 và ba ông về xin một phần đất để ở. Hiện trạng sử dụng là nguyên thửa chạy dài từ kênh xáng Phụng Hiệp đến kênh hậu phía sau. Hai phần đất không có làm hàng rào ngăn nhưng có làm hàng rào phần phía sau kênh hậu và hàng rào hướng nam của phần đất của gia đình ông, do xây dựng nhà không hết đất nên gia đình ông chỉ làm hàng rào đến cuối phần nhà bỏ trống phần phía sau nhưng vẫn có làm hàng rào thấp chăn nuôi heo để đi ra phía sau kênh hậu được. Nguyên đơn cho rằng gia đình nguyên đơn sử dụng trên 60 năm là không đúng, gia đình ông N4 lấn chiếm phần đất của gia đình ông, do phần đất bỏ trống nên ba ông cho ông N4 mượn chất đống rơm, nuôi
trâu, bò nên ông N4 lấn chiếm sử dụng đến khi cha ông mất năm 2004 thì gia đình ông N4 xây dựng công trình trên đất, nhằm lấn chiếm hết phần đất phía sau của gia đình ông.
Theo nguyên đơn yêu cầu thì ông không đồng ý, ông L thống nhất phần đất đã xây mộ thì ổn định cho gia đình nguyên đơn, chỉ yêu cầu nguyên đơn trả lại phần đất từ giáp mí mộ trở về hướng nam (giáp thửa 91) cho gia đình ông, đồng thời buộc bà T5 tháo gỡ hàng rào trả lại hiện trạng ban đầu.
Theo đại diện bị đơn - ông L khai do phần đất bỏ trống nên ba ông cho ông N4 mượn chất đống rơm, nuôi trâu, bò nên ông N4 lấn chiếm sử dụng đến khi cha ông mất năm 2004 thì gia đình ông N4 xây dựng công trình trên đất, nhằm lấn chiếm hết phần đất phía sau của gia đình ông. Xét thấy, ông L nói gia đình ông cho ông N4 mượn đất và sau đó lấn chiếm phần đất tranh chấp, phía gia đình nguyên đơn không thừa nhận, nhưng ông L không có chứng cứ để chứng minh lời trình bày trên. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chứng minh cho việc gia đình nguyên đơn mượn đất và lấn chiếm đất của gia đình ông L.
[7] Xét thấy, đối với phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế có diện tích 275,4m² thì nguyên đơn cho rằng là của ông N4 và bà S1 (cha mẹ nguyên đơn) sử dụng từ trước năm 1975 đến khi chết và để lại cho nguyên đơn quản lý sử dụng cho đến nay. Trong quá trình sử dụng gia đình nguyên đơn có xây hàng rào bằng chì gai làm ranh từ năm 1969, đến năm 2004 mới xây dựng lại hàng rào bằng tường 10 làm ranh. Khi ông N4 và bà S1 còn sống sử dụng đất thì giữa các bên không có tranh chấp. Tuy nhiên, sau khi hai ông bà qua đời, phía gia đình bị đơn lại tranh chấp đất, con của bà G là ông Vương Tấn L1 đã ngang nhiên đập phá hàng rào và lấn chiếm phần đất của gia đình nguyên đơn theo đo đạc thực tế có diện tích 275,4m². Phía gia đình bị đơn cho rằng gia đình bị đơn được Ủy ban nhân dân huyện M (nay là huyện C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/02/1997, diện tích 970m², thuộc thửa số 90, tờ bản đồ số 01, toạ lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cho hộ ông Vương Đức L6 đứng tên là đăng ký sau ông N4, nên không thể nào có việc lấn chiếm đất của nguyên đơn.
Xét thấy, về quá trình sử dụng đất thì đối với phần đất tranh chấp này thì từ trước năm 1975 đến nay thì gia đình nguyên đơn đã canh tác, quản lý, sử dụng ổn định xây mộ và có xây dựng hàng rào làm ranh. Việc này cũng được những người làm chứng ông Dương Huỳnh N6, ông Dương H7, ông Sơn C4, bà Hà Thị Thu T4, ông Thạch C2, ông Lâm Thái H6, Kim Thị L7 đều xác định “phần đất tranh chấp giữa bà T5 và bà G, ông L1 là ông Trịnh N4 đã quản lý, sử dụng từ trước tiếp thu đến nay, sử dụng làm chuồng trâu, chuồng bò, có bụi tre và đóng rơm. Trong thời gian sử dụng gia đình ông N4 có xây hàng rào chì gai, đến năm 2004 ông N4 xây hàng rào cặp bên hàng rào ông L6 xây bằng tường 10 làm ranh và sử dụng từ trước đến nay gia đình bà G, ông L1 cũng không có ngăn cản. Đến khi ông N4 chết thì con ông N4 tiếp tục sử dụng cho đến nay. Phần đất của bà G, ông L1 là chỉ xây dựng hết nhà”. Còn gia đình bị đơn thì không có canh tác quản lý sử dụng đối với phần đất tranh chấp này.
[8] Từ những nhận định nói trên, cùng lời khai trình của các nhận chứng thể hiện phần đất có tranh chấp diện tích 275,4m² thuộc một phần thửa đất số
90, tờ bản đồ số 1 toạ lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn bà T5. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 17 và Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng phần đất diện tích 275.4m² thuộc một phần thửa đất số 90 là của nguyên đơn.
[9] Xét nội dung nguyên đơn khởi kiện về việc yêu cầu Tòa án hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dung đất số I 195202, số vào sổ 00016 do Ủy ban nhân dân huyện M (nay là C) cấp cho hộ ông Vương Đức L6 ngày 12/02/1997 đối với phần đất diện tích 275,4m² thuộc một phần thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01, diện tích 970m² tọa lạc ấp T, xã T, huyện M (nay là ấp T, thị trấn C, huyện C) tỉnh Sóc Trăng thì thấy rằng, tại Công văn số: 397/CV-VPĐKĐK, ngày 20/8/2021 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S phúc đáp: “... Về Nguồn gốc đất của hộ ông Trịnh N4 và hộ ông Vương Đức L6 được thể hiện là đất gốc theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất thiết lập năm 1992 và năm 1996 đã được Hội đồng đăng ký đất đai xã T xác nhận đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, việc cấp Giấy chứng nhận cho 02 hộ nêu trên là đúng trình tự thủ tục theo quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận”. Việc cấp giấy chứng nhận tại thời điểm năm 1992 chỉ dựa vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất và nguồn gốc đất, không tiến hành xác minh, đo đạc thực tế tại thời điểm đó ai là người đang trực tiếp canh tác, quản lý, sử dụng là chưa đảm quy định của pháp luật về đất đai. Mặt khác, theo như phân tích ở phần trên, thì phần đất tranh chấp diện tích 275,4m² này thì được gia đình nguyên đơn quản lý, sử dụng xuyên suốt từ trước năm 1975 đến nay, việc cấp Giấy chứng nhận cho phía bị đơn là không đúng với thực tế người sử dụng đất. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dung đất số I 195202, số vào sổ 00016 do Ủy ban nhân dân huyện M (nay là C) cấp cho hộ ông Vương Đức L6 ngày 12/02/1997 đối với phần đất diện tích 275,4m² thuộc một phần thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01, diện tích 970m² tọa lạc ấp T, xã T, huyện M (nay là ấp T, thị trấn C, huyện C), tỉnh Sóc Trăng.
[10] Căn cứ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm là có căn cứ, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[11] Do không chấp nhận kháng cáo, bị đơn bà Tạ Thị G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên do bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ
thẩm số 67/2022/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Án phí phúc thẩm: bị đơn bà Tạ Thị G được miễn nộp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Tuấn Vinh |
Bản án số 268/2024/DS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 268/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
