TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 268/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03/8/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đỗ Thị Thanh
- Ông Hoàng Sĩ Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/5/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 309/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 218/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị An Thị Lan A, sinh năm 2001; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt, có quan điểm xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Thanh B, sinh năm 1994; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt.
Người được nguyên đơn ủy quyền về việc giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số H N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị An Thị Lan A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Thanh B được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 27/4/2021 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống cùng nhau tại nhà bố mẹ chồng. Thời gian đầu, chị và anh B sống vui vẻ, hạnh phúc nhưng sau đó đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống cũng như bất đồng trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Tháng 9/2022, chị sang Đài Loan làm việc. Sau đó anh B cũng sang Đài Loan cùng chị. Kể từ khi đi Đài Loan, mâu thuẫn của vợ chồng chị ngày càng trầm trọng, anh chị không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh B.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Phạm An Thảo V, sinh ngày 02/10/2021. Hiện nay cháu V đang ở cùng bà ngoại. Sau khi ly hôn, chị đề nghị giao con chung cho chị nuôi dưỡng. Trong thời gian ở nước ngoài, chị nhờ mẹ đẻ là bà Phạm Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V cho đến khi chị về Việt Nam. Chị không đề nghị Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, nợ chung nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do chị Lan A không cung cấp được địa chỉ của anh Phạm Thanh B ở Đài Loan nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh B. Ông Phạm Văn H (là bố đẻ của anh B) trình bày: Ông không biết địa chỉ cụ thể của anh B ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên anh B vẫn thỉnh thoảng liên lạc với gia đình qua điện thoại. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Khi chị Lan A có đơn xin ly hôn, anh B cũng đã biết sự việc và để chị Lan A tự giải quyết, anh B không có quan điểm gì. Về con chung: Anh B xác định vợ chồng có 01 con chung là Phạm An Thảo V, sinh ngày 02/10/2021. Do con chung còn nhỏ nên anh B nhất trí để chị Lan Anh n con. Chị Lan A không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng tiền nuôi con, anh B đồng ý. Về tài sản chung, nợ chung: Anh B không đề nghị Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị T1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của chị Lan A. Trong thời gian ở nước ngoài, chị Lan A ủy quyền cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V, bà đồng ý.
Tại phiên tòa: Chị Lan A, bà T1 vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt. Bị đơn anh B vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy
2
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị An Thị Lan A được ly hôn anh Phạm Thanh B.
Về con chung: Giao cho chị Lan A được nuôi dưỡng con chung là Phạm An Thảo V, sinh ngày 02/10/2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tạm giao cháu V cho bà Phạm Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị Lan A không có mặt tại Việt Nam. Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị Lan A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- [1.1] Nguyên đơn chị An Thị Lan A và bị đơn anh Phạm Thanh B hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại huyện G, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- [1.2] Các văn bản mà chị Lan A gửi về và ủy quyền cho anh Nguyễn Ngọc T nộp thay gồm: Đơn xin ly hôn; bản tự khai; giấy ủy quyền đều có xác nhận của Văn phòng K tại Đ nên được xác định là hợp pháp.
- [1.3] Quá trình giải quyết vụ án, chị Lan A không cung cấp được địa chỉ của anh B tại Đài Loan. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị Lan A và gia đình anh B cung cấp địa chỉ, nhưng chị Lan A và gia đình anh B không cung cấp được. Ông Phạm Văn H là bố đẻ anh B xác định anh B vẫn thỉnh thoảng liên lạc với gia đình, chị Lan A có đơn xin ly hôn, anh B đã biết nhưng không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
- [1.4] Tại phiên tòa, chị Lan A, bà T1 vắng mặt, có đề nghị xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh B đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ
3
Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị An Thị Lan A và anh Phạm Thanh B kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương vào ngày 27/4/2021 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị Lan A xác định vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Từ tháng 9/2022, sau khi đi Đài Loan, chị và anh B đã không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau. Anh B đã biết việc chị Lan A có đơn xin ly hôn, nhưng không có quan điểm, ý kiến trình bày gửi cho Tòa án, điều đó thể hiện thái độ thờ ơ, bỏ mặc, không có biện pháp để vợ chồng về đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Lan A và anh B đã trầm trọng, anh chị không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần chấp nhận cho chị Lan A được ly hôn anh B là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- [2.2] Về quan hệ con chung: Chị Lan A và anh B có 01 con chung là Phạm An Thảo V, sinh ngày 02/10/2021. Hiện cháu V đang ở cùng bà ngoại là Phạm Thị T1. Sau khi ly hôn, chị Lan A xin được nuôi con chung; anh B xác định do con còn nhỏ nên nhất trí để chị Lan A nuôi dưỡng. Trong thời gian ở nước ngoài, chị Lan A nhờ bà T1 chăm sóc cháu V cho đến khi chị Lan A về Việt Nam, bà T1 đồng ý. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận sự thỏa thuận này. Chị Lan A và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của anh chị.
- [2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [2.4] Về án phí: Chị Lan A là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
- [2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn
4
áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị An Thị Lan A ly hôn anh Phạm Thanh B.
- Về con chung: Giao cho chị Lan A được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phạm An Thảo V, sinh ngày 02/10/2021 kể từ tháng 08/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Tạm giao cháu V cho bà Phạm Thị T1 nuôi dưỡng trong thời gian chị Lan A không có mặt tại Việt Nam. Chị Lan A và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị An Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) do anh Nguyễn Ngọc T nộp thay, theo biên lai thu tiền số 0000655 ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị Lan A đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
5
6
7
Bản án số 268/2024/HNGĐ-ST ngày 03/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 268/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị An Thị Lan A xin ly hôn anh Phạm Thanh B
