TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 268/2025/HS-PT
Ngày: 11/4/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Lê Thị Mai; |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Thế Lệ; |
| Ông Bùi Anh Thắng. |
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Nguyệt, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Nguyễn Quang Hưng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 204/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Đặng Thị T bị xét xử về tội “Đánh bạc” do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo có kháng cáo: ĐẶNG THỊ T
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 12 năm 1968 tại: Xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Đặng Văn P và con bà Hoàng Thị T1 (đều đã chết); có chồng Dương Văn S, sinh năm 1966 và có 02 con (lớn sinh năm 1991; nhỏ sinh năm 1993); tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 08/3/2010, Đặng Thị T bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc (số tiền đánh bạc là 1.000.000 đồng), ngày 08/3/2010 T đã chấp hành xong việc nộp phạt.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 10/6/2024 được tại ngoại; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lợi dụng vào kết quả quay xổ số kiến thiết Miền Bắc hàng ngày của Nhà nước, Đặng Thị T trú tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc bán lô đề cho người có nhu cầu để kiếm tiền.
Cụ thể đó là: Khoảng hơn 17 giờ 00 phút, ngày 07/6/2024, tại cửa hàng T2 của Đặng Thị T ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc thì lần lượt có 02 nam thanh niên T không quen biết (sau khi bị bắt, 02 nam thanh niên này tự khai là Trần Văn S1, sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã T, huyện B và Nguyễn Văn N, sinh năm 1997, trú tại Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B) đi đến gặp T, hỏi mua các số lô, số đề của T để đánh bạc, T đồng ý và bán các số lô, số đề cho S1, N. Về cách thức đánh bạc bằng hình thức mua bán các số lô, số đề giữa T với S1, N đã thoả thuận với nhau: Một điểm lô T bán với giá 22.500 đồng, nếu trúng T phải trả cho S1, N 80.000 đồng/01 điểm, nếu trúng nhiều lần thì sẽ nhân với số lần trúng; với số đề thì nếu trúng T sẽ trả cho người mua gấp 70 lần số tiền mua. Kết quả tính thắng thua dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng lúc 18 giờ 15 phút cùng ngày; số đề thì so sánh với 02 số cuối của giải đặc biệt; còn số lô thì so sánh với 02 số cuối của tất cả các giải, nếu trùng khớp thì S1, N thắng và nhân theo tỷ lệ nêu trên. Sau đó, S1, N mua lô đề của T như sau:
- Trần Văn S1 mua các số lô gồm: 27, 72, 93, 79, 97, 28, 82 mỗi số 20 điểm, tổng cộng là 140 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 3.150.000 đồng; còn số đề thì S1 mua số 37 = 50.000 đồng. Tổng số tiền S1 đã mua các số lô, số đề của T là 3.200.000 đồng. Sau đó S1 đưa cho T 01 mảnh giấy trắng đã ghi sẵn các số lô, số đề mà S1 đã mua (gọi là cáp lô đề) và thanh toán đủ số tiền 3.200.000 đồng cho T, T dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04E của Thơm chụp ảnh lại mảnh giấy Sơn viết các số lô, số đề vừa mua để lưu lại làm căn cứ tính thắng thua, chụp xong T trả cáp lô đề này lại cho S1.
- Nguyễn Văn N mua các số lô gồm: 23, 25, 65, 75, 85, 26 mỗi số 20 điểm, tổng là 120 điểm x 22.500 đồng/01 điểm = 2.700.000 đồng; các số đề gồm: 88, 94 mỗi số 50.000 đồng = 100.000 đồng. Tổng số tiền N đã mua các số lô, số đề của T là 2.800.000 đồng. Sau đó N đưa cho T 01 mảnh giấy trắng đã ghi sẵn các số lô, số đề mà N đã mua (gọi là cáp lô đề) và thanh toán đủ số tiền 2.800.000 đồng cho T, T cầm số tiền này trên tay cùng với số tiền đã bán số lô, số đề để đánh bạc với S1 trước đó và tiếp tục dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04E màu xanh của mình để chụp ảnh để lưu lại tính thắng thua, chụp xong T trả mảnh giấy này lại cho N.
Ngay lúc đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V phát hiện, bắt quả tang T đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho S1, N, thu giữ số tiền 6.000.000 đồng trên tay T.
Vật cơ quan Công an đã thu giữ: Tiền ngân hàng N1: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), thu của T; 02 (hai) mảnh giấy có nội dung ghi các số lô, số đề (thường gọi là cáp lô đề) thu trên tay của Trần Văn S1 và Nguyễn Văn N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04E màu xanh của Đặng Thị T, có số IMEI (khel) 355088371295011, số IMEI (khe2) 355962611295017, điện thoại cũ, đã qua sử dụng.
Ngày 07/6/2024, tại thời điểm Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang T bán lô đề cho S1, N thì chưa có kết quả xổ số miền B nên các đối tượng chưa tính thắng thua với nhau được. Vì vậy, tổng số tiền T đánh bạc với S1, Nam ngày 07/6/2024 là 6.000.000 đồng (trong đó số tiền S1 là 3.200.000 đồng, số tiền N là 2.800.000 đồng). Tại phiên tòa sơ thẩm, Đặng Thị T khai nhận việc ghi số lô, số đề với S1 và N là do T ghi rồi giữ lại trường hợp nếu N, S1 trúng thì T tự bỏ tiền ra trả; còn trường hợp nếu S1, N không trúng thì T được hưởng mà không chuyển cho ai.
Kết quả giám định:
Ngày 25/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1721 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04E của Đặng Thị T.
Tại bản Kết luận giám định số 2056 ngày 16/7/2024 Phòng K Công an tỉnh V kết luận:
“- Tìm thấy 01 (một) tin nhắn SMS và 02 (hai) tệp tin Ảnh (có 02 ảnh có liên quan đến số lô, số đề mà T đã chụp các cáp đề của S1, N).
Quá trình điều tra xác định:
Số tiền 6.000.000 đồng thu trên tay của T là tiền đánh bạc giữa T với S1, Nam ngày 07/6/2024; 02 (Hai) mảnh giấy có nội dung ghi các số lô, số đề (thường gọi là cáp lô đề) thu trên tay của Trần Văn S1 và Nguyễn Văn N là tài liệu thể hiện việc T bán số lô, số đề cho S1, Nam ngày 07/6/2024; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04E màu xanh của Đặng Thị T là công cụ T sử dụng cho việc đánh bạc với S1, Nam ngày 07/6/2024.
Trong vụ án này còn có Trần Văn S1 và Nguyễn Văn N là người đã mua lô, đề của Đặng Thị T vào ngày 07/6/2024, sau khi làm việc xong, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã cho S1, N về và yêu cầu có mặt để làm việc vào ngày hôm sau. Sau đó 02 đối tượng này không chấp hành, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã tiến hành xác minh tại thôn T, xã T, huyện B và Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B (địa chỉ nơi 02 đối tượng tự khai). Kết quả đều xác định không có người nào đang sinh sống thường trú, tạm trú, tạm vắng, hoạt động lưu động tại địa phương có nhân thân như tự khai của S1, N. Do đó, việc Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số: 93/CT-VKS-P2 ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đặng Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đặng Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đặng Thị T 07 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 10/6/2024.
Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015: Phạt bị cáo Đặng Thị T 10.000.000 đồng (Mười triệu) sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, bị cáo Đặng Thị T có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Đặng Thị T vắng mặt; Chủ tọa công bố nội dung đơn kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị cáo Đặng Thị T nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T vắng mặt không có lý do. Xét sự vắng mặt của bị cáo không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Đặng Thị T theo quy định tại khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, quyết định của Tòa án sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của bị cáo, kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Thị T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định, không oan;
Tòa án sơ thẩm đã xem xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình giải quyết vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để vận dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo 07 (B) tháng tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, không có tình tiết mới nào đáng kể có thể làm thay đổi bản chất vụ án nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đặng Thị T, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trên cơ sở nội dung vụ án, bản án sơ thẩm, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đặng Thị T kháng cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị cáo Đặng Thị T nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T vắng mặt không có lý do. Xét sự vắng mặt của bị cáo không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Đặng Thị T.
[3] Căn cứ khai nhận tội của bị cáo Đặng Thị T tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ, ngày 07/6/2024, tại cửa hàng T2 của Đặng Thị T ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, T đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho 02 người thanh niên tự khai là Trần Văn S1 và Nguyễn Văn N với tổng số tiền 6.000.000 đồng thì bị lực lượng Công an tỉnh V phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng cơ quan Công an đã thu giữ là số tiền 6.000.000 đồng, 02 cáp đề, 01 chiếc điện thoại di động.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Bộ luật hình sự. Tòa án sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Thị T theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đặng Thị T:
[3.1] Tổng số tiền bị cáo Đặng Thị T bán số lô, số đề là 6.000.000 đồng (trong đó số tiền bán lô đề cho S1 là 3.200.000 đồng, cho N là 2.800.000 đồng) nên bị truy tố, xét xử theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình có khung hình phạt quy định bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3.2] Tòa án sơ thẩm đã xem xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình giải quyết vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để vận dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo 07 (B) tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
[3.3] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đặng Thị T không có tình tiết giảm nhẹ mới nào đáng kể có thể làm thay đổi bản chất vụ án. Mặc dù có kháng cáo và đã nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhưng bị cáo Đặng Thị T vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm không có lý do, điều đó thể hiện bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo T tại bản án sơ thẩm.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên Đặng Thị T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 2 Điều 290; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Q quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Đặng Thị T; giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc như sau:
Tuyên bố bị cáo Đặng Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đặng Thị T 07 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 10/6/2024.
Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015: Phạt bị cáo Đặng Thị T 10.000.000 đồng (Mười triệu) sung quỹ Nhà nước.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đặng Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm;
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Mai |
Bản án số 268/2025/HS-PT ngày 11/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự - tội đánh bạc
- Số bản án: 268/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự - Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị T
