|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 268/2025/DS-PT Ngày: 27/03/2025 Về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương
Các thẩm phán:
- Bà Võ Thị Kim Thương
- Bà Phan Thị Tú Oanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Cao Hoàng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Mai Diễm - Kiểm sát viên.
Vào ngày 27/03/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 1121/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 444/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 752/2025/QĐPT-DS ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2990/2025/QĐ-PT ngày 13/3/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1949;
Địa chỉ: Số I H, Khu phố B, Phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Số E L, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Là đại diện theo ủy quyền. (Theo Giấy ủy quyền ngày 06/02/2023).
- Bị đơn:
- Ông Lê Văn H, sinh năm 1943;
- Bà Lê Kim P, sinh năm 1970;
Cùng địa chỉ: Số B, đường G, Khu phố B, Phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn H, bà Lê Kim P: Ông Đinh Văn S, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số H H, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1951; Địa chỉ: Số B G, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn H.
(Phiên tòa có mặt: Bà Trần Thị B, bà Phạm Thị Ngọc T, ông Đinh Văn S. Vắng mặt bà Hồ Thị H1).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 07/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc T trình bày:
Vào ngày 22 tháng 07 năm 2019, ông Lê Văn H, bà Hồ Thị H1, bà Lê Kim P đã đến tìm bà Trần Thị B để mượn số tiền 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng). Thời điểm này, ông H1, bà H1 và bà P cam kết với bà B rằng ngày 22/08/2019, ông bà sẽ hoàn trả số tiền trên cho bà B đầy đủ. Nhưng khi đến hạn hoàn trả, ông H1, bà H1 và bà P vẫn không thanh toán cho bà B mà tiếp tục hẹn. Vì nghĩ tình cảm chỗ quen biết, bà B đã cho ông H1, bà H1, bà P mượn một số tiền lớn, cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông H1, bà H1 và bà P chuẩn bị tiền để hoàn trả cho bà Trần Thị B.
Đến ngày 01/11/2022, sau nhiều lần bà B hối thúc thì ông H1, bà H1 và bà P đã viết giấy cam kết hoàn trả tiền nợ cho tôi với nội dung như sau: “Ông Lê Văn H, bà Hồ Thị H1, bà Lê Thị P cam kết sẽ trả tiền bà Trần Thị B là 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng) đã mượn vào ngày 22/07/2019 và cam kết sẽ trả số tiền trên vào ngày 30/12/2022. Ông Lê Văn H, bà Hồ Thị H1, bà Lê Thị P sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu có vấn đề phát sinh”.
Tuy nhiên, đến ngày 31/12/2022, ông H1, bà H1 và bà P vẫn không thanh toán tiền nợ cho bà B. Cùng ngày do tuổi cao sức yếu bà B có ký bổ sung với ông H1 bà P là sẽ ủy quyền cho con trai bà B ông Nguyễn Văn H2 sẽ thay bà B nhận số tiền trên. Đến nay, đã quá hạn thanh toán nhưng ông Lê Văn H, bà Hồ Thị H1, bà Lê Thị Kim P vẫn không thực hiện việc thanh toán khoản tiền đã mượn. Việc ông H1, bà H1 và bà P nhiều lần hẹn thanh toán tiền nợ cho bà B kéo dài từ năm 2019 đến nay đã hơn 3 năm, đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi ích của bà B.
Nay nguyên đơn bà Trần Thị B yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Lê Văn H, bà Hồ Thị H1, bà Lê Thị Kim P trả tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 23/8/2024 là: 5.124.493.150 đồng (Năm tỷ một trăm hai mươi tư triệu bốn trăm chín mươi ba ngàn một trăm năm mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc còn nợ là 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng); tiền lãi chậm thanh toán theo quy định của Bộ luật dân sự là 10%/năm, cụ thể thời gian chậm thanh toán tính từ ngày 31/12/2022, tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 724.493.150 đồng (Bảy trăm hai mươi tư triệu bốn trăm chín mươi ba ngàn một trăm năm mươi đồng). Ông Lê Văn H, bà Hồ Thị H1, bà Lê Thị Kim P có nghĩa vụ thanh toán số tiền trên làm một lần.
Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lê Văn H, bà Lê Kim P có đại diện hợp pháp ông Đinh Văn S trình bày:
Ông Lê Văn H, bà Lê Thị P xác nhận có vay và cam kết sẽ trả tiền cho bà Trần Thị B là 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng) vào ngày 22/07/2019.
Nay với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị B yêu cầu bị đơn ông Lê Văn H, bà Hồ Thị H1, bà Lê Thị P phải trả cho bà Trần Thị B số tiền nợ gốc là 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng) và khoản tiền lãi chậm thanh toán. Lãi suất chậm trả tiền theo quy định của Bộ luật dân sự là 10%/năm, cụ thể thời gian chậm thanh toán tính từ ngày 31/12/2022 cho đến ngày ông Lê Văn H, bà Hồ Thị H1, bà Lê Thị Kim P hoàn tất nghĩa vụ thanh toán tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 724.493.150 đồng (Bảy trăm hai mươi tư triệu bốn trăm chín mươi ba ngàn một trăm năm mươi đồng). Tổng cộng số tiền phải trả là 5.124.493.150 đồng (Năm tỷ một trăm hai mươi tư triệu bốn trăm chín mươi ba ngàn một trăm năm mươi đồng) thì ông Lê Văn H, bà Lê Thị P đồng ý cùng bà Hồ Thị H1 trả toàn bộ số tiền trên.
Bị đơn bà Hồ Thị H1 đã được Tòa án tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn bà H1. Tòa án cũng tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 238/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 nhưng bà Hồ Thị H1 vẫn vắng mặt.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 444/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của
Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị B.
Buộc bị đơn ông Lê Văn H, bà Lê Kim P, bà Hồ Thị H1 trả lại số tiền còn nợ tổng cộng theo Giấy mượn tiền ngày 22/7/2019 tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 5.124.493.150 đồng (Năm tỷ một trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi ba ngàn một trăm năm mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc còn nợ là 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng); tiền lãi chậm trả là 724.493.150 đồng (Bảy trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi ba ngàn một trăm năm mươi đồng). Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.
Kể từ ngày ông bà Trần Thị B có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Lê Văn H, bà Lê Kim P, bà Hồ Thị H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
* Ngày 06/09/2024 bị đơn ông Lê Văn H nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ông Đinh Văn S là người đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo trình bày: Ông Lê Văn H kháng cáo bản án sơ thẩm vì ông H cho rằng thực tế chỉ nhận của bà Trần Thị B số tiền 2.200.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm triệu đồng) chớ không phải là 4.400.000.000₫ (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng). Do đó, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
Nguyên đơn bà Trần Thị B có đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Thị Ngọc T trình bày: Nguyên đơn không đồng ý với lời trình bày của ông Lê Văn H về việc ông H cho rằng thực tế chỉ nhận của nguyên đơn số tiền 2.200.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm triệu đồng) chớ không phải là 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng). Bà đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của đương sự làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Tòa án chấp nhận. Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các bên tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vào ngày 23/08/2024 đến ngày 06/09/2024 bị đơn ông Lê Văn H nộp đơn kháng cáo. Ông Lê Văn H đã nộp đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên đơn kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản; bị đơn có địa chỉ cư trú tại Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm. Do có kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[1.3] Về người tham gia tố tụng và sự vắng mặt của các đương sự:
Bà Hồ Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H: Ông Lê Văn H đề nghị sửa bản án sơ thẩm vì cho rằng thực tế chỉ nhận của bà Trần Thị B số tiền là 2.200.000.000 đồng, không phải là 4.400.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Lê Văn H cho rằng thực tế số tiền vay và nhận của bà Trần Thị B là 2.200.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh và nguyên đơn bà Trần Thị B đồng ý với lời trình bày của ông Lê Văn H nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
- Căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày 22/07/2019, Giấy cam kết trả nợ ngày 01/11/2022 thể hiện ông Lê Văn H, bà Hồ Thị H1, bà Lê Kim P có mượn và cam kết trả cho bà Trần Thị B số tiền 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng) vào ngày 30/12/2022 và tại biên bản không tiến hành hòa giải được (bút lục số 72) thể hiện ông Lê Văn H và ông Đinh Văn S đều cam kết có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị B số tiền 4.400.000.000 đồng nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông H, bà P, bà H trả số nợ gốc là 4.400.000.000 đồng là phù hợp với quy định pháp luật.
- Về yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán: Các đương sự xác nhận từ khi ký giấy mượn tiền ngày 20/7/2019 cho đến hiện nay, bị đơn xác chưa thanh toán tiền vay cho nguyên đơn. Nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi chậm thanh toán là 724.493.150 đồng từ ngày 31/12/2022 tạm tính đến ngày Tòa án cấp xử sơ thẩm 23/08/2024 với lãi suất 10%/ năm là phù hợp với giấy cam kết ngày 01/11/2022 và khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về thời hạn thanh toán: Căn cứ vào giấy cam kết ngày 01/11/2022 thể hiện bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn vào ngày 30/12/2022 nhưng đến nay bị đơn vẫn không thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H và giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Các bị đơn gồm ông Lê Văn H, bà Lê Kim P, bà Hồ Thị H1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật trên số tiền phải trả cho nguyên đơn bà Trần Thị B là phù hợp Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Lê Văn H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí phúc thẩm nên căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi và Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Lê Văn H được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự;
-
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 444/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị B. Buộc bị đơn ông Lê Văn H, bà Lê Kim P, bà Hồ Thị H1 trả lại số tiền còn nợ tổng cộng theo Giấy mượn tiền ngày 22/7/2019 tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 5.124.493.150 đồng (Năm tỷ một trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi ba ngàn một trăm năm mươi đồng). Trong đó, số tiền gốc còn nợ là 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng); tiền lãi chậm trả là 724.493.150 đồng (Bảy trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi ba ngàn một trăm năm mươi đồng). Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành. Kể từ ngày bà Trần Thị B có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Lê Văn H, bà Lê Kim P, bà Hồ Thị H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn H, bà Lê Kim P, bà Hồ Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.124.493 đồng (Một trăm mười ba triệu một trăm hai mươi bốn nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn H được miễn án phí phúc thẩm. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 268/2025/DS-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 268/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
