|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 268/2024/HS-ST
Ngày: 29/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Dũng
- Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Văn Tài;
- - Ông Nguyễn Hoàng Tú.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Tường Phúc – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lữ Phương Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 260/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thúy H, giới tính: Nữ, sinh năm: 1982, nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; HKTT: Nhà số A đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: 558/01/12 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1961 và bà Cao Bạch Thu H1, sinh năm 1963; Anh, chị, em: Có 02 người, bị can là con lớn nhất trong gia đình.
- Nhân thân: Ngày 28/6/2006, tại Bản án số 46/HSST, Nguyễn Thúy H bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 22/12/2009, tại Bản án số 170/HSST, Nguyễn Thúy H bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 15/7/2013, tại Bản án số 78/HSST, Nguyễn Thúy H bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Ngày 10/4/2014, tại Bản án số 36/HSST, Nguyễn Thúy H bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng cộng 11 năm tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 78/HSST ngày 15/7/2013, H phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 14 năm tù.
- Tiền án:
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/6/2024. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Đồng Nguyễn Tường A: Vắng mặt
Địa chỉ: H L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 22/6/2024, Nguyễn Thúy H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Attila, màu trắng, biển số 55P2-1305 đi đến tiệm bánh mì “Anh Cường B”, tại địa chỉ số C đường N, Phường A, quận B, để mua bánh mì. Khi đến nơi, H dựng xe mô tô phía trước cửa hàng rồi vào quầy để mua bánh nhưng không thấy loại bánh H cần mua, nên ra xe đi về. Khi H vừa điều khiển xe mô tô chạy lên được một đoạn, thì phát hiện trên xe mô tô, màu trắng, biển số 72D1 – 470.47 của chị Đ Nguyễn Tường A (sinh năm: 2000) đang dựng phía trước cửa hàng có để 01 balo màu đen ở phía trước baga xe, còn chị A đi vào bên trong mua bánh, nên H nảy sinh ý định trộm balo màu đen này. Lúc này, H sử dụng 02 chân đẩy xe mô tô của H lùi lại đến kế bên xe mô tô của chị A, rồi quan sát mọi người xung quanh thấy không có ai chú ý, nên H dùng tay phải lấy ba lô màu đen của chị A để vào phía trước baga xe mô tô của H rồi nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát khỏi hiện trường. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, chị A ra lấy xe thì phát hiện bị mất trộm.
Sau khi trộm được tài sản, H điều khiển xe mô tô đi về hướng Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để thăm cháu của H. Khi đi qua khỏi cầu K, Quận D, H dừng xe lại để kiểm tra tài sản trộm cắp được, thì phát hiện bên trong có 01 máy tính bảng nhãn hiệu S Tab S9 màu đen, nên H đã lấy máy tính bảng bỏ vào cốp xe của H còn balo màu đen thì vứt trên vỉa hè trước địa chỉ nhà số F đường N, Phường A, Quận D. Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe mô tô qua thăm cháu K nhưng do đã khuya nhà đóng cửa nên H quay về lại phòng trọ, tại địa chỉ nhà số E đường B, Phường B, quận B. Khi về đến phòng trọ, H lấy máy tính bảng trong cốp xe giấu tại khu vực bếp rồi đi ngủ.
Khoảng 06 giờ 20 phút, ngày 23/6/2024, chị A đến Công an P, quận B trình báo sự việc bị mất trộm 01 ba lô màu đen, bên trong có đựng 01 máy tính bảng nhãn hiệu S, dung lượng 8GB/128GB màu đen.
Qua truy xét, vào lúc 07 giờ ngày 23/6/2024, khi H đang ngủ tại phòng trọ địa chỉ nhà số E đường B, Phường B, quận B, Công an P1, quận B đến kiểm tra hành chính, đã thu giữ được máy tính bảng tại khu vực bếp tại phòng trọ của H.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 163 ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận B xác định 01 máy tính bảng hiệu S, dung lượng 8GB/128GB màu đen, có giá trị là 8.500.000 đồng; 01 ba lô màu đen, không rõ nhãn hiệu không đủ cơ sở định giá
Thu giữ, xử lý vật chứng:
- 01 máy tính bảng, hiệu S S9 wifi, màu đen, dung lượng 8GB/128GB, số seri: R52WBOBWCZA, là tài sản của chị Đồng Nguyễn Tường A, do H trộm cắp của chị A. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị A.
- 01 xe mô tô, hiệu Attila, màu trắng, biển số 55P2-1305, có số khung: RLGH125GD8D076199; số máy: VMM9BE-D076199. Kết quả xác minh, người đứng tên chủ sở hữa xe mô tô là bà: Trần Thị Thanh N (sinh năm: 1976, nơi thường trú: 24 đường T phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh). Xác minh tại địa chỉ trên Công an phường T, quận T xác nhận bà N hiện đang ở tại: B Khu D, tổ H, ấp V, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Xác minh tại Công an xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, xác nhận bà N có nhân thân như trên hiện không cư trú tại địa phương, nên Cơ quan điều tra chưa mời làm việc được. Bị can H khai nhận xe mô tô trên do ông Nguyễn Văn Ú (sinh năm 1961) là bố ruột của H cho H mượn để làm phương tiện đi lại. Làm việc với ông Ú, ông khai nhận đã mua xe mô tô trên từ một người tên “Tý” chỉ thoả thuận miệng, không có hợp đồng mua bán và ông Ú thừa nhận cho H mượn xe mô tô để làm phương tiện đi lại, không biết H sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội;
- 01 áo thun màu đỏ có lô gô phía trước ngực, 01 quần thun dài màu đỏ có họa tiết màu trắng, 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 đôi dép màu trắng. Đây là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia RM1190 màu trắng. Đây là tài sản của H, không liên quan đến hành vi phạm tội;
- 01 USB màu bạc, chứa hình ảnh camera ghi lại diễn biến sự việc trộm cắp tài sản của H.
Tại Cáo trạng số 250/CT-VKSBTh ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Thúy H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thúy H từ 03 năm đến 4 năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật, riêng đối với 01 xe mô tô, hiệu Attila, màu trắng, biển số 55P2-1305, có số khung: RLGH125GD8D076199; số máy: VMM9BE-D076199, đề nghị giao Chi cục Thi hành án dân sự đăng báo trong thời hạn 06 tháng nếu không có ai đến nhận thì trả lại cho ông Ú.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm Sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm Sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt:
01 máy tính bảng hiệu S, dung lượng 8GB/128GB màu đen, trị giá 8.500.000 đồng và 01 ba lô màu đen, không rõ nhãn hiệu nên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội. Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Đồng Nguyễn Tường A đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 áo thun màu đỏ có lô gô phía trước ngực, 01 quần thun dài màu đỏ có họa tiết màu trắng, 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 đôi dép màu trắng. Đây là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia RM1190 màu trắng. Đây là tài sản của H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo
- 01 USB màu bạc, chứa hình ảnh camera ghi lại diễn biến sự việc trộm cắp tài sản của H nên lưu vào hồ sơ vụ án
- 01 xe mô tô, hiệu Attila, màu trắng, biển số 55P2-1305, có số khung: RLGH125GD8D076199; số máy: VMM9BE-D076199. Kết quả xác minh, người đứng tên chủ sở hữa xe mô tô là bà: Trần Thị Thanh N (sinh năm: 1976, nơi thường trú: 24 đường T phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh). Xác minh tại địa chỉ trên Công an phường T, quận T xác nhận bà N hiện đang ở tại: B Khu D, tổ H, ấp V, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Xác minh tại Công an xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, xác nhận bà N có nhân thân như trên hiện không cư trú tại địa phương, nên Cơ quan điều tra chưa mời làm việc được. Bị can H khai nhận xe mô tô trên do ông Nguyễn Văn Ú (sinh năm 1961) là bố ruột của H cho H mượn để làm phương tiện đi lại. Làm việc với ông Ú, ông khai nhận đã mua xe mô tô trên từ một người tên “Tý” chỉ thoả thuận miệng, không có hợp đồng mua bán và ông Ú thừa nhận cho H mượn xe mô tô để làm phương tiện đi lại, không biết H sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên giao Chi cục Thi hành án dân sự đăng báo trong thời hạn 06 tháng nếu không có ai đến nhận thì trả lại cho ông Ú
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thúy H 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 24/6//2024.
- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun màu đỏ có lô gô phía trước ngực, 01 quần thun dài màu đỏ có họa tiết màu trắng, 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 đôi dép màu trắng;
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia RM1190 màu trắng.
- Giao cơ quan Thi hành án dân sự quận B tiếp tục đăng báo trong thời hạn 06 tháng đối với xe mô tô 02 bánh nhãn hiệu Attila, màu bạc, biển số 55P2-1305, có số khung: RLGH125GD8D076199; số máy: VMM9BE-D076199, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì trả lại cho ông Nguyễn Văn Ú.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh và cơ quan Cảnh sát Điều tra công an quận B).
- Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Thúy H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Linh Dũng |
Bản án số 268/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 268/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thúy Hằng - Trộm cắp tài sản
