Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 268/2024/DS-ST

Ngày: 30 - 7 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thắng.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Ông Danh Cư.
    • 2. Bà Thái Thục Hiền.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nga – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 152/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh L, sinh năm 1968.
  2. Địa chỉ: Số A đường L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

  3. Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1981.
  4. Địa chỉ: Số B Đường số H, Khu dân cư B B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L trình bày:

Ngày 17/3/2022 bà L cho ông Trần Văn C vay số tiền 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng, không thoả thuận lãi suất để mua căn nhà tại địa chỉ số B Đường số H, Khu dân cư B B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh và cam kết trả trong thời gian một tháng. Hai bên giao nhận tiền mặt trực tiếp tại Văn phòng Công chứng Lê Kim T và lập Giấy vay tiền với nội dung ông C vay của bà L số tiền nêu trên và cam kết nếu ông C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Đến nay đã hơn 02 năm kể từ ngày vay tiền, mặc dù đã rất nhiều lần yêu cầu ông C trả tiền nhưng ông C không thanh toán cho bà L bất kỳ khoản tiền nào như đã cam kết.

Giao dịch vay mượn tiền giữa bà L và ông C phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc ông C không thanh toán nợ đã xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của bà L được pháp luật bảo vệ.

Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân Quận 8 giải quyết:

Yêu cầu ông Trần Văn C trả cho bà L tổng cộng số tiền là 1.784.383.562 đồng. Đề nghị thanh toán một lần ngay sau khi bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong đó:

  • - Tiền gốc là 1.500.000.000 đồng;
  • - Tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là 10%/năm tạm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ là ngày 17/4/2022 đến ngày ký đơn khởi kiện là ngày 15/3/2024 (01 năm 10 tháng 27 ngày) là 284.383.562 đồng.

Ngày 12/6/2024, bà L nộp Đơn khởi kiện bổ sung với nội dung: Ngày 15/9/2023 bà và ông C có thoả thuận bà L sang nhượng cho ông C 01 (một) ô vựa (sạp) số 27, thuộc dãy nhà lồng F, có tên kinh doanh là Cường T1 tại chợ đầu mối B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 300.000.000 đồng. Hai bên lập giấy sang nhượng ngày 15/9/2023 và bà L đã bàn giao sạp (ô vựa) cho ông C tiếp quản, kinh doanh từ đó đến nay. Tuy nhiên, ông C chỉ mới thanh toán cho bà L số tiền 100.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của em họ bà L là Trần Kim Y.

Nay bà L khởi kiện bổ sung yêu cầu ông C thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền còn thiếu cho bà L là 200.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 15/9/2023 tạm tính đến ngày 12/6/2024 với lãi suất 10%/năm là 14.812.000 đồng. Tổng cộng là 214.812.000 đồng. Yêu cầu ông C thanh toán một lần sau khi bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật.

Toàn bộ số tiền bà L cho ông C vay là tài sản riêng của cá nhân bà L, số tiền này không liên quan đến bên thứ ba nào khác và bà chỉ cho cá nhân ông C vay, chỉ yêu cầu một mình ông C có nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu bên thứ ba nào khác có nghĩa vụ liên đới trả nợ.

Ngày 15/7/2024, nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Rút lại yêu cầu ông Trần Văn C thanh toán cho bà L số tiền 214.812.000 đồng (Trong đó: Tiền gốc còn thiếu theo thoả thuận là 200.000.000 đồng; T2 lãi là 14.812.000 đồng).

Và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu ông Trần Văn C trả cho bà L tổng cộng số tiền là 1.784.383.562 đồng. Đề nghị thanh toán một lần ngay sau khi bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong đó: Tiền gốc là 1.500.000.000 đồng; Tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là 10%/năm tạm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ là ngày 17/4/2022 đến ngày ký đơn khởi kiện là ngày 15/3/2024 (01 năm 10 tháng 27 ngày) là 284.383.562 đồng.

Tại các bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông Trần Văn C trình bày:

Khoảng năm 2020, ông và bà L có chung sống như vợ chồng, quá trình sống chung bà L có tự nguyện cho ông số tiền 1.500.000.000 đồng để mua nhà đất tại địa chỉ số B Đường số H, Khu dân cư B B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn nhà này ông mua với giá 3.800.000.000 đồng, trong đó ông vay của ngân hàng 2.400.000.000 đồng.

Năm 2022 do làm ăn thuận lợi, ông có ý định trả cho bà L số tiền này nên đã lập Giấy xác nhận bà L giao cho ông 1.500.000.000 đồng ngày 17/3/2022. Chữ ký và chữ viết trên giấy xác nhận này là của ông. Nay do điều kiện làm ăn khó khăn, nợ nần nên ông không có khả năng hoàn lại số tiền này cho bà L.

Tháng 9 năm 2023, ông có nhận sang nhượng lại một ô sạp tại chợ B như bà L trình bày với giá 300.000.000 đồng, có lập giấy sang nhượng và đã thanh toán cho bà L 100.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của em họ bà L là Trần Kim Y. Số tiền còn lại là 200.000.000 đồng thì bà L đã lấy chiếc xe SH ý của ông, do đó việc sang nhượng đã hoàn tất. Nếu bà L trả lại chiếc xe SH cho ông thì ông sẽ trả lại cho bà L số tiền 200.000.000 đồng.

- Đối với yêu cầu khởi kiện của bà L yêu cầu ông thanh toán số tiền 214.812.000 đồng. Bà L đã rút yêu cầu, ông đồng ý với việc rút yêu cầu này và không có ý kiến gì.

- Đối với yêu cầu khởi kiện của bà L yêu cầu ông trả tổng cộng số tiền là 1.784.383.562 đồng. Đề nghị thanh toán một lần ngay sau khi bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật. Trong đó: Tiền gốc là 1.500.000.000 đồng; Tiền lãi là 284.383.562 đồng ông có ý kiến như sau:

+ Ông xác nhận có nhận của bà L số tiền 1.500.000.000 đồng như bà L trình bày. Số tiền này là bà L tự nguyện cho ông chứ không phải cho vay. Hai bên giao nhận tiền mặt trực tiếp tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh để ông C mua căn nhà tại địa chỉ số B Đường số H, Khu dân cư B B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời điểm trước đây ông làm ăn kinh doanh được ông có ý định trả cho bà L số tiền này, tuy nhiên hiện nay làm ăn khó khăn, ông nợ nần nhiều nên không có khả năng thanh toán. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện này ông không đồng ý. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ Ông C xác nhận toàn bộ số tiền bà L cho ông là tài sản riêng của cá nhân bà L, số tiền này không liên quan đến bên thứ ba nào khác và bà chỉ cho cá nhân ông, không liên quan đến bên thứ ba nào khác.

Tại phiên toà sơ thẩm,

  • · Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L:
  • Xin rút một phần yêu khởi kiện đối với yêu cầu buộc ông C phải trả tiền lãi từ ngày 17/4/2022 đến ngày 28/5/2024. Chỉ yêu cầu công C trả tiền lãi từ ngày 29/5/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30/7/2024 là: 1.500.000.000 đồng x 10%/năm x 63 ngày = 25.890.410 đồng.

    Tổng cộng bà L yêu cầu ông C có nghĩa vụ thanh toán cho bà L: 1.525.890.410 đồng. Trong đó, tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng, tiền lãi là 25.890.410 đồng. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  • · Bị đơn ông Trần Văn C trình bày:
  • Đối với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà L ông đồng ý, không có ý kiến. Và ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L yêu cầu ông có nghĩa vụ thanh toán cho bà L 1.525.890.410 đồng. Trong đó, tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng, tiền lãi là 25.890.410 đồng vì giữa bà L và ông không có quan hệ vay mượn gì hết.

  • · Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến:
  • Về tố tụng:

    • + Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
    • + Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

    • + Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L đối với: yêu cầu bị đơn ông Trần Văn C thanh toán số tiền 214.812.000 đồng và yêu cầu thanh toán số tiền lãi từ ngày 17/4/2022 đến ngày 28/5/2024 trên số tiền 1.500.000.000 đồng với lãi suất 10%/năm.
    • + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L yêu cầu ông C có nghĩa vụ thanh toán cho bà L 1.525.890.410 đồng. Trong đó, tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng, tiền lãi là 25.890.410 đồng. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • + Về án phí: Các đương sự có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Văn C phải trả cho bà số tiền 1.525.890.410 đồng, trong đó: tiền gốc là 1.500.000.000 đồng, tiền lãi là 25.890.410 đồng.

Đây là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn là ông Trần Văn C cư trú tại Quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về sự hợp lệ của việc sửa đổi, bổ sung và rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối yêu cầu ông Trần Văn C thanh toán cho bà L số tiền 214.812.000 đồng (Trong đó: Tiền gốc còn thiếu theo thoả thuận là 200.000.000 đồng; T2 lãi là 14.812.000 đồng). Tại phiên toà, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bị đơn ông Trần Văn C thanh toán số tiền lãi từ ngày 17/4/2022 đến ngày 28/5/2024.

Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, bị đơn ông Trần Văn C đồng ý và không có ý kiến đối với việc rút yêu cầu khởi kiện này, phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ Giấy xác nhận lập ngày 17/3/2022 đã được ông C xác nhận chữ ký, chữ viết với nội dung:

“……… bà L có đóng góp cho tôi 1.500.000.000 đồng mua nhà. Giờ tôi và bà L không còn sống chung thì bà Trần Thị Thanh L lấy lại một tỷ rưỡi với điều kiện là chừng nào bà M có trả tiền cho tôi, tôi sẽ trả cho bà Trần Thị Thanh L trong thời gian sớm nhất. Nhưng hiện tại bà M mất tôi có trách nhiệm trả lại số tiền nêu trên..."

Căn cứ lời khai, trình bày của bà Trần Thị Thanh L và lời khai, xác nhận của ông Trần Văn C có cơ sở xác định: Ngày 17/3/2022 bà L có đưa cho ông C vay số tiền 1.500.000.000 đồng, giao nhận tiền mặt trực tiếp tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh để ông C mua căn nhà tại địa chỉ số B Đường số H, Khu dân cư B B, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Hai bên không thoả thuận thời hạn trả nợ và lãi suất.

Như vậy, giữa bà Trần Thị Thanh L và ông Trần Văn C đã xác lập giao dịch dân sự về hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn, không lãi suất, bên cho vay là bà Trần Thị Thanh L và bên vay là ông Trần Văn C.

[2.3] Đây là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn, không lãi suất theo đúng quy định tại Điều 463, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015, mặc dù đã nhiều lần bà Trần Thị Thanh L yêu cầu ông C trả tiền (bằng miệng và bằng các Thông báo về việc yêu cầu thanh toán toàn bộ khoản nợ) tuy nhiên ông C không thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày, xác nhận của các đương sự thể hiện đến thời điểm hiện tại ông C chưa thanh toán khoản tiền nợ gốc, lãi nào cho bà L.

Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Trần Văn C phải trả cho nguyên đơn tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi:

Căn cứ Thông báo về việc yêu cầu thanh toán toàn bộ khoản nợ ghi ngày 17/5/2024 của bà Trần Thị Thanh L và Vận đơn ngày 20/5/2024 với nội dung bà L yêu cầu ông C thanh toán toàn bộ số tiền 1.500.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trong thời hạn 10 ngày, hạn cuối là ngày 28/5/2024.

Nguyên đơn đã thực hiện nghĩa vụ thông báo cho bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tuy nhiên bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó, căn cứ quy định tại Điều 357, khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi từ ngày 29/5/2024 (ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán) đến ngày 30/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là: 10%/năm x 1.500.000.000 đồng x 63 ngày = 25.890.410 đồng.

[2.5] Về phương thức thanh toán:

Nguyên đơn, bị đơn đều xác định toàn bộ số tiền bà L cho ông C vay là tài sản riêng của cá nhân bà L, số tiền này không liên quan đến bên thứ ba nào khác và bà chỉ cho cá nhân ông C vay, chỉ yêu cầu một mình ông C có nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu bên thứ ba nào khác có nghĩa vụ liên đới trả nợ. Do đó, Hội đồng xét xử tuyên buộc một mình cá nhân ông C có nghĩa vụ trả tiền cho bà L.

Căn cứ quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì bên vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, số tiền nợ nêu trên đã kéo dài làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của bà L về việc buộc ông C có nghĩa vụ thanh toán 01 lần toàn bộ số tiền nợ gốc và tiền lãi ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[2.6] Ý kiến của bị đơn ông Trần Văn C cho rằng số tiền này là bà L tự nguyện cho ông chứ không phải giao dịch vay mượn tuy nhiên ông C không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh, lời khai này của ông C cũng không phù hợp với toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[3] Tại phiên toà, ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí:

Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn ông Trần Văn C có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 117; Điều 357; Điều 401; Điều 463; khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 468; Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ khoản 1 Điều 5 và điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L.

Buộc bị đơn ông Trần Văn C có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L tổng cộng là 1.525.890.410 (một tỷ năm trăm hai mươi lăm triệu tám trăm chín mươi ngàn bốn trăm mười) đồng. Trong đó:

  • - Tiền nợ gốc là: 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng.
  • - Tiền lãi từ ngày 29/5/2024 (ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán) đến ngày 30/7/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 25.890.410 (hai mươi lăm triệu tám trăm chín mươi ngàn bốn trăm mười) đồng.

Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L đối với: yêu cầu bị đơn ông Trần Văn C thanh toán số tiền 214.812.000 đồng và yêu cầu thanh toán số tiền lãi từ ngày 17/4/2022 đến ngày 28/5/2024 trên số tiền 1.500.000.000 đồng với lãi suất 10%/năm.

3. Về án phí:

Ông Trần Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 57.776.712 (năm mươi bảy triệu bảy trăm bảy mươi sáu ngàn bảy trăm mười hai) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn lại cho bà Trần Thị Thanh L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.370.300 (năm triệu ba trăm bảy mươi ngàn ba trăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0030015 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàn lại cho bà Trần Thị Thanh L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 53.000.000 (năm mươi ba triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000864 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

5. Về quyền kháng cáo:Trần Thị Thanh L, ông Trần Văn C có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 8, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 8, TP.HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 268/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 268/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger