|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 268/2024/DS-ST Ngày: 25-10-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Bích
- Bà Lê Thị Kim Lệ
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 181/2024/DSST ngày 12/6/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1005/2024/QĐXXST-DS ngày 19/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1024/2024/QĐST-DS ngày 08/10/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1.
Địa chỉ: Số A đường T, phường C, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trí C, sinh năm: 1973; Ông Bùi Lê N, sinh năm 1987 là đại diện theo ủy quyền - Theo Văn bản ủy quyền số 1192/UQ-CN7-CS ngày 15/7/2024 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số C đường B, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1991(vắng mặt)
Địa chỉ: Căn hộ A tầng A, chung cư T, C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 có ông Nguyễn Trí C, ông Bùi Lê N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 sau đây gọi tắt là V1 và ông Nguyễn Thanh V có giao kết các Hợp đồng: Hợp đồng cho vay số 042.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/05/2021; Hợp đồng cho vay số 087.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/10/2021; Hợp đồng cho vay số 047.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 15/04/2022; Hợp đồng cho vay số 110.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 14/12/2022; Hợp đồng phát hành thẻ số 247 ngày 22/07/2020; Hợp đồng phát hành thẻ số 200132 ngày 22/10/2020. Tạm tính đến ngày 14/8/2024: Việc thực hiện Hợp đồng giữa 02 bên như sau:
- Theo Hợp đồng cho vay số 042.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/05/2021: Số tiền cho vay: 564.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 188.000.000 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 376.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 83.968.558 đồng; Lãi chậm trả: 8.380.044 đồng.
- Theo Hợp đồng cho vay số 087.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/10/2021: Số tiền cho vay: 3.639.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 226.500.000 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 3.412.500.000 đồng; Lãi quá hạn: 830.087.254 đồng; Lãi chậm trả: 13.461.154 đồng.
- Theo Hợp đồng cho vay số 047.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 15/04/2022: Số tiền cho vay: 800.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 133.000.000 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 667.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 152.224.059 đồng; Lãi chậm trả: 11.856.374 đồng.
- Theo Hợp đồng cho vay số 110.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 14/12/2022: Số tiền cho vay: 1.000.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 773.500.285 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 226.499.715 đồng; Lãi quá hạn: 140.472.973 đồng; Lãi chậm trả: 38.064.653 đồng.
- Theo Hợp đồng phát hành thẻ số 247 ngày 22/07/2020: Số tiền cho vay: 150.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 7.172.246 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 142.827.754 đồng; Lãi quá hạn: 47.310.216 đồng; Lãi chậm trả: 650.797 đồng
- Theo Hợp đồng phát hành thẻ số 200132 ngày 22/10/2020: Số tiền cho vay: 100.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 51.200 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 99.948.800 đồng; Lãi quá hạn: 35.225.090 đồng; Lãi chậm trả: 1.815.484 đồng.
Từ ngày 27/02/2023, ông V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ không thanh toán các khoản nợ gốc lãi đến hạn định kỳ cho nguyên đơn, và toàn bộ dư nợ của khách hàng chuyển nợ quá hạn từ ngày 08/03/2023. Nguyên đơn đã tìm cách liên lạc với ông Nguyễn Thanh V nhiều lần nhưng không nhận được phản hồi từ phía ông V. Do ông V đã vi phạm toàn bộ các nghĩa vụ theo các Hợp đồng đã ký kết giữa 02 bên nói trên. Vì vậy, Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 (V1) đề nghị tòa án tuyên xử: Buộc ông Nguyễn Thanh V thanh toán cho V1 tổng số tiền tạm tính đến 14/8/2024: 6.288.292.925 đồng gồm 4.924.776.269 đồng nợ gốc; 1.289.288.150 đồng nợ lãi; 74.228.506 đồng nợ lãi chậm trả.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 14/08/2024 (hoặc ngày xét xử), ông Nguyễn Thanh V vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1.
Để đảm bảo cho toàn bộ các khoản vay, ông Nguyễn Thanh V có ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 (V1) các hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp bất động sản số 21.103.049/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 29/10/2021; Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 22.103.030/2022/HĐBĐ/NHCT924 ngày 15/4/2022 + Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 22.103.030/2022/HĐBĐ/NHCT924 - 01 ngày 17/5/2022 (xe có biển số đăng ký: 51K - 244.02); Hợp đồng thế chấp xe Ô tô số 21.103.031/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 28/5/2021 + Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 21.103.031/2021/HĐBĐ/NHCT924-BS01 ngày 12/10/2021 (xe có biển số đăng ký: 51H-441.68);
Trường hợp bị đơn – ông Nguyễn Thanh V không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn – V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể là: Xe ô tô nhãn hiệu Subaru; loại: Forester; biển số: 51K-244.02; màu sơn: Đen; Xe ô tô nhãn hiệu Subaru; loại: Forester; biển số: 51H-441.68; màu sơn: Xanh; Nhà và đất tại địa chỉ: 1 đường B, KP3, phường B, Quận B, Tp ..
Bị đơn là ông Nguyễn Thanh V vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Ông V cũng không gửi văn bản có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án nên không thể thu thập ý kiến của ông V.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 có ông Nguyễn Trí C, ông Bùi Lê Nguyễn L đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị tòa án tuyên xử: Buộc ông Nguyễn Thanh V thanh toán cho V1 tổng số tiền tính đến 25/10/2024: 6.449.892.086 đồng, cụ thể:
- Theo Hợp đồng cho vay số 042.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/05/2021: Số tiền cho vay: 564.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 188.000.000 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 376.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 94.748.941 đồng; Lãi chậm trả: 10.633.248 đồng.
- Theo Hợp đồng cho vay số 087.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/10/2021: Số tiền cho vay: 3.639.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 226.500.000 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 3.412.500.000 đồng; Lãi quá hạn: 939.431.144 đồng; Lãi chậm trả: 17.080.618 đồng.
- Theo Hợp đồng cho vay số 047.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 15/04/2022: Số tiền cho vay: 800.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 133.000.000 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 667.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 171.900.717 đồng; Lãi chậm trả: 15.044.320 đồng.
- Theo Hợp đồng cho vay số 110.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 14/12/2022: Số tiền cho vay: 1.000.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 773.500.285 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 226.499.715 đồng; Lãi quá hạn: 145.015.378 đồng; Lãi chậm trả: 40.670.963 đồng.
- Theo Hợp đồng phát hành thẻ số 247 ngày 22/07/2020: Số tiền cho vay: 150.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 7.172.246 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 142.827.754 đồng; Lãi quá hạn: 50.607.140 đồng; Lãi chậm trả: 650.797 đồng.
- Theo Hợp đồng phát hành thẻ số 200132 ngày 22/10/2020: Số tiền cho vay: 100.000.000 đồng; Số tiền đã trả: 51.200 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 99.948.800 đồng; Lãi quá hạn: 37.517.067 đồng; Lãi chậm trả: 1.815.484 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, ông Nguyễn Thanh V vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1.
Trường hợp bị đơn – ông Nguyễn Thanh V không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể:
- Xe ô tô nhãn hiệu Subaru; loại: Forester; biển số: 51K-244.02; màu sơn: Đen theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 22.103.030/2022/HĐBĐ/NHCT924 ngày 15/4/2022 + Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 22.103.030/2022/HĐBĐ/NHCT924 - 01 ngày 17/5/2022;
- Xe ô tô nhãn hiệu Subaru; loại: Forester; biển số: 51H-441.68; màu sơn: Xanh theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 21.103.031/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 28/5/2021 + Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 21.103.031/2021/HĐBĐ/NHCT924-BS01 ngày 12/10/2021;
- Nhà và đất tại địa chỉ: 1 đường B, KP3, phường B, Quận B, Tp . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 222973, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH07875 do Ủy ban nhân dân Quận B,Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28 tháng 8 năm 2012 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 21.103.049/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 29/10/2021.
Về chi phí tố tụng – chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 tự nguyện chịu.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh V: Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng ông V vẫn vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại Quận D nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định; bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án dù đã được triệu tập hợp lệ.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; căn cứ trình bày và tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn cung cấp, của Tòa án thu thập đã thể hiện bị đơn đã ký các hợp đồng tín dụng với nguyên đơn, bị đơn được giải ngân số tiền vay qua các giấy nhận nợ, sao kê tài khoản. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền nợ gốc, lãi, lãi chậm trả là có cơ sở để chấp nhận. Trường hợp bị đơn không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định.
Về án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh V thanh toán số tiền nợ theo các Hợp đồng tín dụng, nên có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng. Theo kết quả xác minh của Công an P, Quận D thì “Đương sự Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1991 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ A2.19.15 tầng 19, chung cư T, C B, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh”. Vậy ông Nguyễn Thanh V có nơi cư trú tại Quận D, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 có ông Nguyễn Trí C, ông Bùi Lê N là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt; Bị đơn là ông Nguyễn Thanh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Tòa án đã đăng thông báo trên B; Đ; Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị đơn; Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 (V1) đề nghị tòa án tuyên xử: Buộc ông Nguyễn Thanh V thanh toán cho V1 tổng số tiền tính đến 25/10/2024: 6.449.892.086 đồng, cụ thể:
- Theo Hợp đồng cho vay số 042.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/05/2021: Nợ gốc: 376.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 94.748.941 đồng; Lãi chậm trả: 10.633.248 đồng;
- Theo Hợp đồng cho vay số 087.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/10/2021: Nợ gốc: 3.412.500.000 đồng; Lãi quá hạn: 939.431.144 đồng; Lãi chậm trả: 17.080.618 đồng;
- Theo Hợp đồng cho vay số 047.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 15/04/2022: Nợ gốc còn lại: 667.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 171.900.717 đồng; Lãi chậm trả: 15.044.320 đồng;
- Theo Hợp đồng cho vay số 110.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 14/12/2022: Nợ gốc: 226.499.715 đồng; Lãi quá hạn: 145.015.378 đồng; Lãi chậm trả: 40.670.963 đồng;
- Theo Hợp đồng phát hành thẻ số 247 ngày 22/07/2020: Nợ gốc: 142.827.754 đồng; Lãi quá hạn: 50.607.140 đồng; Lãi chậm trả: 650.797 đồng;
- Theo Hợp đồng phát hành thẻ số 200132 ngày 22/10/2020: Nợ gốc: 99.948.800 đồng ; Lãi quá hạn: 37.517.067 đồng; Lãi chậm trả: 1.815.484 đồng.
Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đối với bị đơn – ông Nguyễn Thanh V, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đã đăng thông báo trên B; Đ; Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Ngày 20/05/2021 V1 và ông Nguyễn Thanh V có ký kết Hợp đồng cho vay số 042.103/2021-HĐCV/NHCT924; Ngày 20/10/2021 V1 và ông Nguyễn Thanh V có ký kết Hợp đồng cho vay số 087.103/2021-HĐCV/NHCT924; Ngày 15/04/2022 V1 và ông Nguyễn Thanh V có ký kết Hợp đồng cho vay số 047.103/2022-HĐCV/NHCT924; Ngày 14/12/2022 V1 và ông Nguyễn Thanh V có ký kết Hợp đồng cho vay số 110.103/2022-HĐCV/NHCT924; Ngày 22/07/2020 V1 và ông Nguyễn Thanh V có ký kết Hợp đồng phát hành thẻ số 247; Ngày 22/10/2020 V1 và ông Nguyễn Thanh V có ký kết Hợp đồng phát hành thẻ số 200132. Xét việc ký kết các Hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, các điều khoản hai bên thỏa thuận trong các hợp đồng đều đáp ứng đủ điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng và phù hợp với nội dung quy định tại Điều 91, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 17/2017/QH14 Nội dung trong các hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, do vậy các Hợp đồng nói trên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ chấp hành.
- Thực hiện Hợp đồng cho vay số 042.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/05/2021, V1 đã giải ngân cho ông V số tiền 564.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 28/5/2021, thời hạn của Hợp đồng vay: từ 28/5/2021 đến 28/5/2026, mục đích vay: Thanh toán chi phí mua xe ô tô nhãn hiệu Subaru; biển số: 51H-441.68; Lãi suất vay: 5,5%/năm; Từ ngày 27/02/2023 bị đơn vi phạm nghĩa vụ; Số tiền bị đơn đã trả: 188.000.000 đồng. Như vậy, ông V đã vi phạm Điều 3 của Hợp đồng cho vay số 042.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/05/2021 về nghĩa vụ thanh toán và theo quy định tại Điều 2 của Hợp đồng cho vay số 042.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/05/2021 về lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất cho vay quá hạn, lãi chậm trả, ông V phải trả nợ gốc còn lại: 376.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 94.748.941 đồng; Lãi chậm trả: 10.633.248 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
- Thực hiện Hợp đồng cho vay số 087.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/10/2021, V1 đã giải ngân cho ông V số tiền 3.639.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 20/10/2021, thời hạn của Hợp đồng vay: từ 20/10/2021 đến 20/10/2041, mục đích vay: Thanh toán chi phí mua nhà đất số A đường B, KP3, phường B, Quận B, Tp .; Lãi suất vay: 5%/năm; Từ ngày 27/02/2023 bị đơn vi phạm nghĩa vụ; Số tiền bị đơn đã trả: 226.500.000 đồng. Như vậy, ông V đã vi phạm Điều 3 của Hợp đồng cho vay số 087.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/10/2021 về nghĩa vụ thanh toán và theo quy định tại Điều 2 của Hợp đồng cho vay số 087.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/10/2021 về lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất cho vay quá hạn, lãi chậm trả, ông V phải trả nợ gốc còn lại: 3.412.500.000 đồng; Lãi quá hạn: 939.431.144 đồng; Lãi chậm trả: 17.080.618 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
- Thực hiện Hợp đồng cho vay số 047.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 15/04/2022, V1 đã giải ngân cho ông V số tiền 800.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 15/4/2022, thời hạn của Hợp đồng vay: từ 15/4/2022 đến 15/4/2027, mục đích vay: Thanh toán chi phí mua xe ô tô nhãn hiệu Subaru Forester biển số: 51K-24402; Lãi suất vay: 5%/năm; Từ ngày 27/02/2023 bị đơn vi phạm nghĩa vụ; Số tiền bị đơn đã trả: 133.500.000 đồng. Như vậy, ông V đã vi phạm Điều 3 của Hợp đồng cho vay số 47.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 15/04/2022 về nghĩa vụ thanh toán và theo quy định tại Điều 2 của Hợp đồng cho vay số 047.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 15/04/2022 về lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất cho vay quá hạn, lãi chậm trả, ông V phải trả nợ gốc còn lại: 667.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 171.900.717 đồng; Lãi chậm trả: 15.044.320 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
- Thực hiện Hợp đồng cho vay số 110.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 14/12/2022, V1 đã cấp hạn mức cho ông V số tiền 1.000.000.000 đồng; theo sao kê tài khoản của số tài khoản 625000224409, chủ tài khoản: Ông Nguyễn Thanh V thể hiện từ ngày 14/12/2022 đến ngày 20/3/2024, tổng phát sinh số tiền đã sử dụng là 1.101.204.402 đồng; Phương thức cho vay: cho vay theo hạn mức thấu chi; thời hạn của Hợp đồng vay: từ 14/12/2022 đến 12/12/2023, mục đích vay: tiêu dùng; Lãi suất vay: 6.5%/năm; Từ ngày 27/02/2023 bị đơn vi phạm nghĩa vụ; Số tiền bị đơn đã trả: 874.704.687 đồng. Như vậy, ông V đã vi phạm Điều 3 của Hợp đồng cho vay số 110.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 14/12/2022 về nghĩa vụ thanh toán và theo quy định tại Điều 2 của Hợp đồng cho vay số 110.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 14/12/2022 về lãi suất thấu chi, lãi suất thấu chi trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi chậm trả, ông V phải trả nợ gốc còn lại: 226.499.715 đồng; Lãi quá hạn: 140.472.973 đồng; Lãi chậm trả: 38.064.653 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
- Thực hiện Hợp đồng phát hành thẻ số 247 ngày 22/07/2020, V1 đã cấp hạn mức cho ông V số tiền 150.000.000 đồng; Từ ngày 22/7/2020 đến 10/01/2023 V1 đã giải ngân cho ông V số tiền 150.000.000 đồng vào tài khoản số 280010000064433, chủ tài khoản: Ông Nguyễn Thanh V; Từ ngày 27/02/2023 bị đơn vi phạm nghĩa vụ; Số tiền bị đơn đã trả: 7.172.246 đồng. Như vậy, ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi theo Điều khoản và Điều kiện thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1, ông V phải trả nợ gốc còn lại: 142.827.754 đồng; Lãi quá hạn: 50.607.140 đồng; Lãi chậm trả: 650.797 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
- Thực hiện Hợp đồng phát hành thẻ số 200132 ngày 22/10/2020, V1 đã cấp hạn mức cho ông V số tiền 100.000.000 đồng; Từ ngày 22/10/2020 đến 10/01/2023 V1 đã giải ngân cho ông V số tiền 100.000.000 đồng vào tài khoản số 257110000337387, chủ tài khoản: Ông Nguyễn Thanh V; Từ ngày 27/02/2023 bị đơn vi phạm nghĩa vụ; Số tiền bị đơn đã trả: 51.200 đồng. Như vậy, ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi theo Điều khoản và Điều kiện thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1, ông V phải trả nợ gốc còn lại: 99.948.800 đồng; Lãi quá hạn: 37.517.067 đồng; Lãi chậm trả: 1.815.484 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[2.2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 (V1) yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không trả được nợ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Xét các Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 22.103.030/2022/HĐBĐ/NHCT924 ngày 15/4/2022 + Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 22.103.030/2022/HĐBĐ/NHCT924 - 01 ngày 17/5/2022; Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 21.103.031/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 28/5/2021 + Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 21.103.031/2021/HĐBĐ/NHCT924-BS01 ngày 12/10/2021; Hợp đồng thế chấp bất động sản số 21.103.049/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 29/10/2021 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 và ông Nguyễn Thanh V là tự nguyện, đảm bảo điều kiện về hình thức và nội dung của hợp đồng, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên phát sinh hiệu lực là phù hợp quy định tại các Điều 317, Điều 318, Điều 319 Bộ luật dân sự năm 2015.
Xét về nguồn gốc xe ô tô nhãn hiệu Subaru; loại: Forester; biển số: 51K-244.02; màu sơn: Đen và xe ô tô nhãn hiệu Subaru; loại: Forester; biển số: 51H-441.68; màu sơn: Xanh theo các Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 22.103.030/2022/HĐBĐ/NHCT924 ngày 15/4/2022 + Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 22.103.030/2022/HĐBĐ/NHCT924 - 01 ngày 17/5/2022; Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 21.103.031/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 28/5/2021 + Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 21.103.031/2021/HĐBĐ/NHCT924-BS01 ngày 12/10/2021; Tại phiếu trả lời xác minh của Phòng cảnh sát giao thông Công an Thành phố H ngày 25/7/2024, thể hiện các xe trên thuộc sở hữu của bị đơn theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 123783 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an Thành phố H cấp ngày 13 tháng 4 năm 2022 (Xe ô tô nhãn hiệu Subaru; loại: Forester; biển số: 51K-244.02; số khung: MMRSK7LL5KT004963; số máy: YP45412; màu sơn: Đen) và theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 043049 do Phòng C - Công an Thành phố H cấp ngày 28 tháng 5 năm 2021 (Xe ô tô nhãn hiệu Subaru; loại: Forester; biển số: 51H-441.68; số khung: MMRSK7LL5KT004071; số máy: YK77949; màu sơn: Xanh). Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định các xe ô tô trên là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị đơn theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tài sản thế chấp đã được Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ theo đúng quy định pháp luật. Việc thế chấp được đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 15/4/2022 tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh đối với xe 51K-244.02 và ngày 28/5/2021 đối với xe 51H-441.68. Tại mục 1.2 Điều 1 của mỗi Hợp đồng thế chấp nói trên, quy định về nghĩa vụ được bảo đảm: “là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn của bên được bảo đảm với bên nhận thế chấp phát sinh từ tất cả các hợp đồng cho vay...”. Do đó, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của nguyên đơn khi bị đơn không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 317, Điều 318, Điều 319 Bộ luật dân sự năm 2015 nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Xét nguồn gốc nhà và đất tại địa chỉ: 1 đường B, KP3, phường B, Quận B, Tp . theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 21.103.049/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 29/10/2021; Tại Công văn số 3631/CNBT ngày 10/8/2024, công văn số 4330/CNBT ngày 23/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B và công văn số 5050/QLĐT ngày 30/9/2024 của Phòng quản lý đô thị quận B cho biết nhà đất trên thuộc chủ sở hữu của ông Nguyễn Thanh V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 222973, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH07875 do Ủy ban nhân dân Quận B,Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28 tháng 8 năm 2012; có nội dung cập nhật vào ngày 26/10/2021: “chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh V...” cập nhật vào ngày 02/11/2021: “Thế chấp tại ngân hàng Thương mại Cổ phần C1”; Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định nhà và đất tại địa chỉ: 1 đường B, KP3, phường B, Quận B, Tp . là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị đơn theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tài sản thế chấp đã được Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ theo đúng quy định pháp luật. Hợp đồng thế chấp bất động sản số 21.103.049/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 29/10/2021 được chứng nhận tại Phòng C2; Có đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 01/11/2021 tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H-Chi nhánh Quận B. Tại mục 1.2 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp bất động sản nói trên, quy định về nghĩa vụ được bảo đảm: “là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn của bên được bảo đảm với bên nhận thế chấp phát sinh từ tất cả các hợp đồng cho vay...”. Do đó, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của nguyên đơn khi bị đơn không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 317, Điều 318, Điều 319 Bộ luật dân sự năm 2015 nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[3]. Về chi phí tố tụng – chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 tự nguyện chịu chi phí tố tụng – chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; H lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 155, Điều 186, Điều 188, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 158, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1.
Buộc ông Nguyễn Thanh V thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 tổng số tiền tính đến 25/10/2024 là 6.449.892.086 đồng (sáu tỷ bốn trăm bốn mươi chín triệu tám trăm chín mươi hai nghìn không trăm tám mươi sáu đồng), cụ thể:
- Theo Hợp đồng cho vay số 042.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/05/2021: Ông Nguyễn Thanh V thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 nợ gốc: 376.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 94.748.941 đồng; Lãi chậm trả: 10.633.248 đồng;
- Theo Hợp đồng cho vay số 087.103/2021-HĐCV/NHCT924 ngày 20/10/2021: Ông Nguyễn Thanh V thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 nợ gốc: 3.412.500.000 đồng; Lãi quá hạn: 939.431.144 đồng; Lãi chậm trả: 17.080.618 đồng;
- Theo Hợp đồng cho vay số 047.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 15/04/2022: Ông Nguyễn Thanh V thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 nợ gốc: 667.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 171.900.717 đồng; Lãi chậm trả: 15.044.320 đồng;
- Theo Hợp đồng cho vay số 110.103/2022-HĐCV/NHCT924 ngày 14/12/2022: Ông Nguyễn Thanh V thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 nợ gốc: 226.499.715 đồng; Lãi quá hạn: 145.015.378 đồng; Lãi chậm trả: 40.670.963 đồng;
- Theo Hợp đồng phát hành thẻ số 247 ngày 22/07/2020: Ông Nguyễn Thanh V thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 nợ gốc: 142.827.754 đồng; Lãi quá hạn: 50.607.140 đồng; Lãi chậm trả: 650.797 đồng;
- Theo Hợp đồng phát hành thẻ số 200132 ngày 22/10/2020: Ông Nguyễn Thanh V thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 nợ gốc: 99.948.800 đồng ; Lãi quá hạn: 37.517.067 đồng; Lãi chậm trả: 1.815.484 đồng.
Kể từ ngày 25/10/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Thanh V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên số nợ chưa thanh thanh toán theo mức lãi suất của các Hợp đồng cho vay đã ký kết theo từng khoản vay.
Trường hợp ông Nguyễn Thanh V không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý các tài sản thế chấp sau đây để thu hồi nợ:
- Xe ô tô nhãn hiệu Subaru; loại: Forester; biển số: 51K-244.02; màu sơn: Đen theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 22.103.030/2022/HĐBĐ/NHCT924 ngày 15/4/2022 + Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 22.103.030/2022/HĐBĐ/NHCT924 - 01 ngày 17/5/2022;
- Xe ô tô nhãn hiệu Subaru; loại: Forester; biển số: 51H-441.68; màu sơn: Xanh theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 21.103.031/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 28/5/2021 + Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp xe ôtô số 21.103.031/2021/HĐBĐ/NHCT924-BS01 ngày 12/10/2021;
- Nhà và đất tại địa chỉ: 1 đường B, KP3, phường B, Quận B, Tp . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 222973, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH07875 do Ủy ban nhân dân Quận B,Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28 tháng 8 năm 2012 và bản vẽ xin phép xây dựng đối với nhà ở số A đường B, phường B, Quận B, Tp . của công ty TNHH T lập ngày 02/12/2022 có Phòng quản lý đô thị Quận B thẩm định ngày 29/12/2022 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 21.103.049/2021/HĐBĐ/NHCT924 ngày 29/10/2021.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 tự nguyện chịu.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Thanh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 114.449.892 đồng (một trăm mười bốn triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn tám trăm chín mươi hai đồng).
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.028.000 đồng (năm mươi bảy triệu không trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo biên lai số 0034412 ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Tp ..
4. Về quyền kháng cáo của các đương sự: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 268/2024/DS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 268/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Nguyễn Thanh Vũ
