|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 268/2024/DS-PT Ngày: 11-6-2024 “V/v tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất, hủy biên bản phân chia quyền sử dụng đất, vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Ngọc Yến |
| Các Thẩm phán: | Bà Phùng Thị Cẩm Hồng |
| Ông Đặng Văn Những |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chiêu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung, Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 445/2023/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất; huỷ biên bản phân chia quyền sử dụng đất; vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 146/2023/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 02/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Lê Thị M, sinh năm 1956.
- Bà Lê Thị M1, sinh năm 1957.
- Bà Lê Thị M2, sinh năm 1966.
- Bà Lê Thị M3, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Số A đường C, phường H, Quận N, Thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số D Quốc lộ A, khu phố B, phường D, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của các bà Lê Thị M, Lê Thị M1, Lê Thị M2 và Lê Thị M3: Ông Nguyễn Tiểu L, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số B Ô, Khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Theo Văn bản ủy quyền ngày 22/3/2021 tại Văn phòng C.
- Bị đơn: Ông Lê Quang Đ, sinh năm 1950.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị M4, sinh năm 1960.
- Bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1953 (có yêu cầu độc lập).
- Ông Lê Quang Hồng P, sinh năm 1981.
- Bà Đinh Vũ Hồng L1, sinh năm 1985.
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L.
- Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3).
Địa chỉ: Số C lô B, P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số A đường L, phường A, quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đinh Vũ Hồng L1: Ông Lê Quang Hồng P, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, phường D, thành phố T, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số A B, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Ông Lê Tấn T, sinh năm 1973.
Địa chỉ: D, ấp E, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Văn bản ủy quyền 20/8/2022 tại Văn phòng C1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/6/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 17/02/2022, những lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các nguyên đơn do ông Nguyễn Tiểu L đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:
Cha mẹ của các bà Lê Thị M, Lê Thị M1, Lê Thị M2, Lê Thị M3 là ông Trần Văn T1, sinh năm 1917 (chết năm 2005) và bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1925 (chết năm 2009). Các cụ Đ1 và T1 có 5 người con gái gồm: Lê Thị M, Lê Thị M1, Lê Thị M4, Lê Thị M3 và Lê Thị M2. Ngoài ra, bà Đ1 còn có một người con riêng với ông Nguyễn Văn N (chết) là ông Lê Quang Đ. Khi cha mẹ các bà qua đời không để lại di chúc. Bà Đ1 để lại khối tài sản gồm: Phần đất thuộc các thửa 164, 165,166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; 01 căn nhà chữ đinh, kết cấu vách tường mái ngói, nền gạch men và các thửa đất 208 diện tích 723m² và thửa 209 diện tích 1980m² phần đất này hiện nay do ông Lê Quang Đ đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 29/7/2011, anh em trong gia đình gồm bà M, bà M1, bà M4, bà M3, bà M2 và ông Đ có họp và lập biên bản họp gia đình để phân chia phần đất tại các thửa đất nêu trên thuộc ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Sau khi tòa án thụ lý vụ án thì các nguyên đơn phát hiện các thửa đất 164, 165,166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện nay do anh Lê Quang Hồng P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 08 tháng 11 năm 2020 các nguyên đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa 164, 165,166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, do Sở tài nguyên và môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho anh Lê Quang H Phúc
Ông Nguyễn Tiểu L đại diện cho bà M, bà M1, bà M3 và bà M2 yêu cầu như sau:
- Yêu cầu hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Quang Đ, Nguyễn Thị Cẩm V và Lê Quang Hồng P được Văn phòng C2 chứng thực số 12697, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/12/2019 thuộc các thửa 164, 165,166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa 164, 165,166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, do Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông Lê Quang H Phúc số CU 455244, CU 455245, CU 455249 và CU 455 246 cùng ngày 30/12/2019.
- Yêu cầu chia tài sản chung quyền sử dụng đất của cụ Lê Thị Đ1 chết để lại gồm phần đất thuộc các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; 01 căn nhà chữ đinh, kết cấu vách tường mái ngói, nền gạch men tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An làm 6 phần bằng nhau. Cụ thể, bà M, bà M1, bà M4, bà M3 và bà M2, mỗi người được chia một phần. Riêng các thửa đất 208 và 209 các nguyên đơn chưa yêu cầu. Căn nhà trên các thửa đất trên các nguyên đơn không yêu cầu chia; ngoài ra, không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Lê Quang Đ và người đại diện theo ủy quyền của ông Đ là ông Lê Tấn T trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa như sau: Ông thống nhất về quan hệ huyết thống của các nguyên đơn với ông Lê Quang Đ do ông Nguyễn Tiểu L trình bày. Nguồn gốc đất tại các thửa 164, 165,166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là của bà Lê Thị Đ1 để lại cho ông Đ quản lý từ năm 1950. Đến ngày 11 tháng 6 năm 1996, ông Lê Quang Đ được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu trung ương. Phần đất này là 4 thửa nằm trong 19 thửa đất mà ông Đ được Nhà nước cấp giấy chứng nhận. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận cho ông Đ thì cụ Lê Thị Đ1 vẫn còn sống và không phản đối gì về việc ông Đ kê khai đăng ký quyền sử dụng đất vì bà Đ1 thống nhất cho ông Đ đứng tên đất. Đến ngày 29/7/2011, anh em trong gia đình ông Lê Quang Đ gồm bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M4, bà Lê Thị M3 và bà Lê Thị M2 (là em cùng mẹ khác cha với ông Đ và ông Đ có họp lại, ông Đ là người chủ trì cuộc họp đã phân chia đất cho các em của ông là các nguyên đơn từ các thửa 108-116 (09 thửa) với diện tích 10.713m². Đồng thời tại biên bản này ông Đ để dành lại khu đất các thửa 164, 165, 166 và 167 tờ bản đồ số 08 Ấp T, xã H, huyện Đ tỉnh Long An làm đất hương quả thể hiện tại phần thứ 3 của biên bản. Việc này các nguyên đơn cũng thống nhất. Do đó các nguyên đơn yêu cầu chia đều phần đất tại các thửa này làm 06 phần bằng nhau là ông Đ không đồng ý. Riêng đối với các yêu cầu của các nguyên đơn về việc yêu cầu hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Đ với người con Lê Quang Hồng P tại các thửa đất 164, 165,166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An thì ông đồng ý.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ bà Nguyễn Thị Cẩm V trình bày: Bà V là vợ của ông Lê Quang Đ; bà V thống nhất với lời trình bày của ông Đ.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Cẩm V, nguồn gốc đất tại các thửa 164, 165,166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, ông Lê Quang Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1996 và 01 căn nhà cấp 4 dùng để thờ tự tổ tiên và cũng là căn nhà duy nhất của vợ chồng bà. Năm 2019, bà và ông Đ đã tặng cho quyền sử dụng đất cho con ông bà là Lê Quang Hồng P và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do đó bà Nguyễn Thị Cẩm V xác định diện tích đất nêu trên là tài sản của vợ chồng bà đã sử dụng ổn định từ trước giải phóng cho đến nay và được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1996. Nên việc lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản do ông Lê Quang Đ và các bà Lê Thị M, Lê Thị M1, Lê Thị M4, Lê Thị M3 và Lê Thị M2 vào ngày 29 tháng 7 năm 2011, không có sự đồng ý của bà V là trái quy định của pháp luật về tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Nay bà yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia được lập ngày 29 tháng 7 năm 2011 giữa ông Lê Quang Đ và các bà Lê Thị M, Lê Thị M1, Lê Thị M4, Lê Thị M3, Lê Thị M2. Nay tại phiên tòa bà rút lại yêu cầu này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Quang Hồng P và chị Đinh Vũ Hồng L1 trình bày: Ông Lê Quang Hồng P và bà Đinh Vũ Hồng L1 là vợ chồng, ông là con ruột của ông Lê Quang Đ và bà Nguyễn Thị Cẩm V. Vào năm 2019 ông Đ và bà V có lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 12697 quyển số 05/TP-SCC/HĐGD ngày 13 tháng 12 năm 2019 do văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3 chứng thực), ông được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 30 tháng 12 năm 2019 và trực tiếp quản lý cho đến nay. Nên đây là tài sản hợp pháp của ông. Do đó qua yêu cầu của các nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho giữa ông Lê Quang Đ, bà Nguyễn Thị Cẩm V và Lê Quang Hồng P và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông vào ngày 30 tháng 12 năm 2019, ông đồng ý. Lý dó để cha ông kê khai đăng ký dùng vào việc thờ cúng ông bà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị M4 trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của bà M, bà M1, bà M2 và bà M3 về quan hệ huyết thống và di sản do bà Đ1 để lại. Bà thống nhất với nội dung về việc thỏa thuận phân chia di sản được ghi trong “Biên bản họp gia đình con cháu của bà Lê Thị Đ1” ngày 29/7/2011. Đối với phần đất thuộc các thửa đất 164, 165,166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An bà đề nghị chia thừa kế theo quy định pháp luật; riêng đối với bà, bà từ chối hưởng phần tài sản mà bà được hưởng trong khối tài sản chung trên. Do ở xa, không có điều kiện đến Tòa án nên bà đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3) trình bày tại Đơn trình bày ý kiến ngày 16/3/2022: Ngày 13/12/2019, Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3) có công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Quang Đ, bà Nguyễn Thị Cẩm V với anh Lê Quang Hồng P tại các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H số công chứng 12697, quyển số 05/TP/CC-SCC/HĐGD. Việc công chứng hợp đồng trên là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3) không có yêu cầu gì trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L có văn bản trình bày ý kiến: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Lê Quang Hồng P đối với các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 30/12/2019 là căn cứ vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Quang Đ, bà Nguyễn Thị Cẩm V với anh Lê Quang Hồng P tại các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H số công chứng 12697, quyển số 05/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/12/2019 tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3). Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai.
Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 146/2023/DS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã tuyên xử:
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483; Điều 228, Điều 244, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 169, Điều 212, Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 609, Điều 613, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 166, Điều 188 Luật đất đai 2013.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, Lê Thị M2, Lê Thị M3 về việc tranh chấp “Vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” với ông Lê Quang Đ, Lê Quang Hồng P và Nguyễn Thị Cẩm V.
- Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc yêu cầu chia tài sản chung quyền sử dụng đất của cụ Lê Thị Đ1 chết để lại gồm phần đất thuộc các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông Lê Quang Đ kê khai đăng ký các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An diện tích thực tế là 5.544,7m². Loại đất BHK và ONT. Vị trí đất theo Mãnh trích đo do Công ty TNHH Đ2 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ duyệt ngày 25/02/2022 để dùng vào việc hương quả thờ cúng.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm V về việc yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia được lập ngày 29 tháng 7 năm 2011 giữa ông Lê Quang Đ và các bà Lê Thị M, Lê Thị M1, Lê Thị M4, Lê Thị M3, Lê Thị M2 tại các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An diện tích thực tế là 5.544,7m². Loại đất BHK và ONT.
- Về chi phí thẩm định, định giá và lập bản vẽ: Các nguyên đơn phải chịu 53.000.000 đồng (đã nộp xong), ông Lê Quang Đ chịu 3.000.000 đồng (đã nộp xong).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Quang Hồng P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Lê Thị M2 phải chịu 300.000 đồng. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà M2 nộp theo biên lai số 0006833 ngày 11 tháng 11 năm 2020. H1 lại bà M2, bà M3 mỗi người 3.050.000 đồng theo các biên lai số 0005724 và 0005725 cùng ngày 01/7/2020, biên lai số 0009805, 0009804 cùng ngày 28/02/2022 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa.
Vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Quang Đ, Nguyễn Thị Cẩm V và Lê Quang Hồng P được Văn phòng C2 chứng thực số 12697, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/12/2019 thuộc các thửa 164, 165,166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí, quyền kháng cáo và hướng dẫn về yêu cầu thi hành án dân sự.
Ngày 08/9/2023, các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ông Nguyễn Tiểu L là Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn vì Biên bản họp gia đình ngày 29/7/2011 có sự thỏa thuận thống nhất của ông Lê Quang Đ, bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M4, bà Lê Thị M3, bà Lê Thị M2 là phần đất còn lại gồm các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An đang do ông Đ quản lý (có nguồn gốc của cụ Lê Thị Đ1 đã chết để lại) được sử dụng như đất hương quả chung của gia đình, con cháu cụ Lê Thị Đầm . Phần đất này với mục đích là thờ cúng ông bà và con cháu có thể về ở hoặc chôn cất ở khu mộ chung khi không có điều kiện. Tuy nhiên, ngày 13/12/2019 ông Lê Quang Đ và bà Nguyễn Thị Cẩm V lập hợp đồng tặng cho các thửa đất trên cho con trai là Lê Quang Hồng P, ông P được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 30/12/2019. Việc vợ chồng ông Đ lén lút tặng cho phần đất giành vào việc thờ cúng cho con trai mình là vi phạm thỏa thuận tại Biên bản họp gia đình ngày 29/7/2011 làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các nguyên đơn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bà M, M1, M2, M3; sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo hướng: Chia các thửa đất số 164, 165, 166, 167 làm 06 phần; các bà M, M1, M2, M3 mỗi bà được chia một phần. Riêng ông Đ có công sức gìn giữ, tôn tạo đất nên chia cho ông Đ hai phần; trên thửa đất số 166 ông Đ đã xây cất nhà và các công trình khác trên đất nên ưu tiên chia thửa 166 cho ông Đ. Các bà M, M1, M2, M3 yêu cầu được nhận chung các thửa 164, 165, 167 và hoàn trả giá trị công trình ông Đ xây dựng trên các thửa đất trên cho ông Đ theo Chứng thư thẩm định giá. Các nguyên đơn yêu cầu xác định giá đất theo Biên bản định giá tài sản ngày 23/6/2023 của Hội đồng định giá do Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa lập. Trường hợp các bà M, bà M1, bà M2, bà M3 cũng như ông Đ nhận các thửa đất nhiều hơn kỷ phần được chia thì có trách nhiệm thối tiền lại cho bên nhận giá trị đất ít hơn.
Ông Lê Tấn T là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lê Quang Đ không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn vì xét về nguồn gốc các thửa đất số 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là của ông Lê Quang Đ, ông Đ cũng là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất. Ngày 11/6/1996, ông Đ được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu của Trung ương (lần đầu) gồm 19 thửa đất, diện tích khoảng 25.658m², trong đó có bốn thửa đất mà các nguyên đơn đang tranh chấp. Sau khi được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 19 thửa đất theo giấy chứng nhận số B 057990, ông Đ là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất, không có bất kỳ ai tranh chấp cho đến thời điểm phát sinh vụ án này. Từ đó cho thấy, ngày 11/6/1996 cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông Đ là đúng pháp luật. Ông Đ quản lý, sử dụng đất ổn định không ai tranh chấp từ khi được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến trước ngày các nguyên đơn khởi kiện, ngày 23/6/2020. Quyền sử dụng 19 thửa đất, diện tích khoảng 25.658m², trong đó có các thửa đất số 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nhà nước chỉ công nhận đất cho ông Đ. Do đó, không có căn cứ pháp lý để cho rằng đây là tài sản của cụ bà Lê Thị Đ1 để lại sau khi qua đời vào năm 2009 vì khi còn sống cụ Đ1 không là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất; không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất; không thể hiện ý chí tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất này. Do đó, không có cơ sở pháp lý cho rằng các thửa đất số 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là di sản thừa kế của cụ Lê Thị Đầm . Từ những vấn đề trình bày nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 146/2023/DS-ST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Quang Hồng P (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Đinh Vũ Hồng L1) không chấp nhận yêu cầu kháng các của các nguyên đơn. Hiện nay hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 13/12/2019 giữa ông Lê Quang Đ, bà Nguyễn Thị Cẩm V và ông Lê Quang Hồng P đã được Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tuyên vô hiệu đối với các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; ông P đồng ý trả lại đất cho cha ông nên không có kháng cáo. Các thửa đất này cha ông là ông Lê Quang Đ được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996, lúc đó bà nội ông là cụ Lê Thị Đ1 còn sống không có tranh chấp. Do đó các thửa đất này không phải là di sản của bà nội ông là cụ Lê Thị Đ1 chết để lại. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ y bản án sơ thẩm số 146/2023/DS-ST ngày 28/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự ở giai đoạn phúc thẩm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Xét kháng cáo của các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3, thấy rằng: Các nguyên đơn và bị đơn là con ruột của cụ Lê Thị Đ1, sinh năm 1925, chết năm 2009; cụ Đ1 chết không để lại di chúc. Ngày 29/7/2011, các anh em trong gia đình gồm bà M, bà M1, bà M4, bà M3, bà M2 và ông Đ lập Biên bản họp gia đình để phân chia đất tại các thửa đất tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An mà ông Lê Quang Đ được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/6/1996. Năm 2018, các nguyên đơn đã khởi kiện ông Đ yêu cầu chia tài sản chung là các thửa đất số 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 168 tờ bản đồ số 12 có tổng diện tích 11.802m² tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An làm 07 phần bằng nhau, mỗi người hưởng một phần; riêng ông Đ được hưởng hai phần do có công sức giữ gìn và quản lý đất. Riêng đối với các thửa đất số 164, 166, 167 và căn nhà cấp 4 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An các nguyên đơn chưa yêu cầu chia. Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã xét xử sơ thẩm tại bản án số 06/2019/DS-ST ngày 23/01/2019 và Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm tại bản án số 192/2019/DS-PT ngày 25/7/2019. Ngày 13/12/2019, tại Văn phòng C2, ông Lê Quang Đ và bà Nguyễn Thị Cẩm V lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất các thửa đất số 163, 164, 165, 167, 168, 209, 166 tờ bản đồ số 8 tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cho con trai là ông Lê Quang Hồng P. Ông P được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/12/2019. Các nguyên đơn khởi kiện ông Đ yêu cầu vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 13/12/2019 đối với các thửa 164, 165, 166, 167 và đã được Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa chấp nhận; ông Đ, bà V và ông P đồng ý nên không kháng cáo. Ông Lê Quang Đ có trách nhiệm kê khai đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Như vậy, hiện nay các thửa đất mà các nguyên đơn đang tranh chấp đã được giao trả về cho ông Lê Quang Đ đứng tên, ông Đ không vi phạm cam kết theo Biên bản thỏa thuận phân chia tài sản ngày 29/7/2011 giữa các anh chị em.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ y bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 được thực hiện đúng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị M4 có đơn xin xét xử vắng mặt; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L, Văn phòng C2 đã được tống đạt thủ tục hợp lệ lần thứ 2. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các người có liên quan nêu trên.
[3] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Các thửa đất số 164, 165, 166, 167, tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An do cụ Lê Thị Đ1 là mẹ của các nguyên đơn, bị đơn và bà Lê Thị M4 chết để lại; các thửa đất này hiện nay do ông Lê Quang Đ đang quản lý sử dụng. Điều này đã được các nguyên đơn, bị đơn và bà Lê Thị M4 thừa nhận trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn, thấy rằng:
[4.1] Các nguyên đơn và bị đơn thống nhất phần đất tranh chấp thuộc các thửa 164, 165, 166, 167, tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An do cụ Lê Thị Đ1 là mẹ của các nguyên đơn, bị đơn và bà Lê Thị M4 chết để lại. Nguyên đơn, bị đơn cũng như bà Lê Thị M4 thống nhất có việc ngày 29/7/2011 ông Lê Quang Đ chủ trì họp gia đình con cháu của cụ Lê Thị Đ1 phân chia đất cho các con gồm: Ông Lê Quang Đ, bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M4, bà Lê Thị M3, bà Lê Thị M2; các ông bà này đều ký tên vào Biên bản họp gia đình.
[4.2] Do không thỏa thuận được việc chia tài sản chung là quyền sử dụng đất nên ngày 02/02/2018, các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 khởi kiện “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” đối với ông Lê Quang Đ đến Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2019/DS-ST ngày 23/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 đối với ông Lê Quang Đ về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” đối với các thửa đất số 164, 166, 167 tờ bản đồ số 8 và căn nhà cấp 4 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn đối với ông Lê Quang Đ về việc “Tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất”; chia quyền sử dụng đất có diện tích đo đạc thực tế là 11.460m² gồm các thửa đất số 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 168, tờ bản đồ số 12 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 192/2019/DS-PT ngày 25/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự về việc chia các thửa đất nêu trên.
[4.3] Ngày 13/12/2019 tại Văn phòng C2, tỉnh Long An, ông Lê Quang Đ và vợ là bà Nguyễn Thị Cẩm V lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con trai là ông Lê Quang Hồng P các thửa đất còn lại gồm: Thửa 163, 164, 165, 167, 166, 168, 209 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Ngày 30/12/2019, ông Lê Quang Hồng P được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 455244 đối với thửa đất số 164, diện tích 701m², loại đất trồng cây hàng năm khác; số CU 455245 đối với thửa đất số 165, diện tích 849m², loại đất trồng cây hàng năm khác; số CU 455249 đối với thửa đất số 166, diện tích 1954m², loại đất ở tại nông thôn; số CU 455246 đối với thửa đất số 167, diện tích 2110m², loại đất trồng cây hàng năm khác mà chưa có sự đồng ý của các bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M4, bà Lê Thị M3, bà Lê Thị M2 là đã vi phạm sự thỏa thuận tại Biên bản họp gia đình ngày 29/7/2011. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn: Vô hiệu một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Quang Đ, bà Nguyễn Thị Cẩm V và ông Lê Quang Hồng P, được Văn phòng C2 chứng thực số 12697, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/12/2019 thuộc các thửa đất số 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Ông Lê Quang Đ kê khai đăng ký các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, diện tích thực tế là 5.544,7m², loại đất BHK và ONT. Vị trí đất theo Mảnh trích đo do Công ty TNHH Đ2 lập, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ duyệt ngày 25/02/2022 là có căn cứ.
[4.4] Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là không phù hợp, bởi vì:
Ngày 29/7/2011, các con của cụ Lê Thị Đ1 là ông Lê Quang Đ, bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M4, bà Lê Thị M3, bà Lê Thị M2 đã lập Biên bản họp gia đình con cháu của cụ Lê Thị Đ1 về việc phân chia đất thừa kế có nguồn gốc từ cụ Lê Thị Đ1 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Lê Quang Đ, trong đó bao gồm các thửa đất các nguyên đơn đang tranh chấp; các nguyên đơn và bị đơn đều ký tên vào Biên bản họp gia đình. Mặc dù Biên bản họp gia đình con cháu của cụ Lê Thị Đ1 ngày 29/7/2011 không có xác nhận của chính quyền địa phương hay cơ quan có thẩm quyền công chứng, không có người làm chứng nhưng các con của cụ Đ1 là các nguyên đơn và ông Đ, bà M4 đều thừa nhận có sự thỏa thuận này và đã thực hiện việc chia tài sản chung vào năm 2019. Do đó có căn cứ công nhận thỏa thuận phân chia di sản này và kể từ thời điểm các con cụ Đ1 (06 người) lập Biên bản họp gia đình thì di sản thừa kế của cụ Đ1 đã trở thành tài sản chung của ông Đ, bà M, bà M1, bà M3, bà M2, bà M4.
[4.5] Tại mục 3 phần II của Biên bản họp gia đình con cháu của bà Lê Thị Đ1 ngày 29/7/2011 thể hiện: “Phần đất còn lại được sử dụng như đất hương quả chung của gia đình, con cháu bà Lê Thị Đầm . Phần đất này với mục đích là thờ cúng ông bà và con cháu có thể về ở hoặc chôn cất ở khu mộ chung khi không có điều kiện; phần đất này được giao cho ông Lê Quang Đ quản lý”. Tuy nhiên, ngày 13/12/2019 tại Văn phòng công chứng Lê Văn Hữu tỉnh C2, ông Lê Quang Đ và vợ là bà Nguyễn Thị Cẩm V lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con trai là ông Lê Quang Hồng P các thửa đất còn lại gồm: Thửa 163, 164, 165, 167, 166, 168, 209 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (là các thửa đất còn lại chưa chia theo Biên bản họp gia đình con cháu của bà Lê Thị Đ1 ngày 29/7/2011), trong khi chưa có sự đồng ý của các bà M, bà M1, bà M2, bà M3, bà M4 là đã vi phạm thỏa thuận ngày 29/7/2011. Do đó, các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung đối với bốn thửa đất số 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An là phù hợp với quy định tại Điều 224 Bộ luật Dân sự năm 2005.
[4.6] Theo Mảnh trích đo địa chính số 35-2022 do Công ty TNHH Đ2 đo ngày 14/02/2022, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/02/2022; Phụ lục Mảnh trích đo số 35-2022 do Công ty TNHH Đ2 phân khu năm 2022 và Phụ lục Mảnh trích đo số 35-2022 do Công ty TNHH Đ2 phân khu ngày 10/6/2024) thì thửa 164 là đất trống; thửa 165 có một nhà số H có diện tích 18m² do ông Đ xây dựng có giá trị là 46.472.920 đồng; mái che nhà 8 diện tích 3,5m² có giá trị là 1.295.551 đồng (theo Chứng thư thẩm định giá ngày 04/8/2022 của Công ty Cổ phần T2); thửa 167 có một trụ viễn thông diện tích 60m² (nguyên đơn cung cấp hình ảnh hiện nay trụ viễn thông đã bị tháo dỡ), 01 nhà vệ sinh diện tích 6m² do ông Đ xây có giá trị 6.370.976 đồng (theo Chứng thư thẩm định giá ngày 04/8/2022 của Công ty Cổ phần T2); thửa 166 gồm các công trình nhà ở và mái che của ông Đ có kí hiệu từ (1) đến (6).
Theo Biên bản định giá tài sản ngày 23/6/2023 của Hội đồng định giá do Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thành lập, tổng giá trị bốn thửa đất là 13.589.130.872 đồng, trong đó thửa đất số 166, loại đất ở tại nông thôn diện tích 1839,1m² có giá trị là 5.698.712.157 đồng; các thửa đất số 164, 165, 167, loại đất trồng cây hàng năm khác (B) có giá trị 7.890.418.715 đồng.
[4.7] Hiện nay gia đình ông Lê Quang Đ đã cất nhà và nhiều công trình phụ khác sinh sống ổn định trên thửa đất số 166. Để đảm bảo ổn định về việc sử dụng đất cũng như các tài sản trên đất của ông Đ, Hội đồng xét xử thấy cần chia cho ông Đ toàn bộ thửa đất số 166; ông Đ và bà V có nghĩa vụ hoàn trả giá trị chênh lệch cho các nguyên đơn phần tiền chênh lệch sau khi đã trừ đi giá trị kỷ phần mà ông Đ được hưởng.
Xét ông Đ có công sức gìn giữ đất từ khi được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 đến nay nên chia quyền sử dụng bốn thửa đất trên thành 06 kỷ phần; các bà M, M1, M2, M3, ông Đ mỗi người nhận 01 kỷ phần tương đương số tiền 2.264.855.145 đồng; riêng bà M4 không có yêu cầu chia bốn thửa đất này nên không chia; ông Đ có công sức gìn giữ, tôn tạo di sản nên được hưởng thêm 01 kỷ phần; tổng cộng ông Đ hưởng 02 kỷ phần là 4.529.710.290 đồng. Các nguyên đơn yêu cầu được nhận chung các thửa đất số 164, 165, 167 có giá trị 7.890.418.715 đồng và thối hoàn lại giá trị công trình trên đất cho ông Đ theo giá đã định giá là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng thửa đất số 166 có giá trị 5.698.712.157 đồng; trên đất có các công trình nhà ở của gia đình ông Đ thì giao cho ông Đ tiếp tục quản lý sử dụng, ông Đ có trách nhiệm hoàn trả giá trị chênh lệch đất cho các nguyên đơn, mỗi người 292.250.466 đồng.
Đối với căn nhà có diện tích 18m² thuộc thửa đất số 165; nhà vệ sinh diện tích 6m² thuộc thửa đất số 167 do ông Đ và bà V xây dựng. Các nguyên đơn đồng ý hoàn lại giá trị căn nhà và nhà vệ sinh theo Chứng thư thẩm định giá cho ông Đ và bà V nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Riêng trụ viễn thông số 9 diện tích 60m² do Công ty Cổ phần V1 xây dựng, hiện nay đã tháo dỡ không còn hiện trạng; Công ty V1 không có văn bản trình bày ý kiến và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp mà không thương lượng thỏa thuận được, các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự độc lập khác.
[4.8] Các nguyên đơn không tranh chấp đối với các tài sản trên thửa đất số 166 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.9] Đối với hiện trạng lối đi vào các thửa đất số 164, 165, 166, 167 được thể hiện tại khu B diện tích 18,4m² thuộc một phần thửa 164; khu A diện tích 67,5m² thuộc một phần thửa 164 (theo Mảnh trích đo địa chính số 35-2022; Mảnh trích đo phân khu năm 2002 và Mảnh trích đo phân khu ngày 10/6/2024); các nguyên đơn đồng ý tự nguyện tiếp tục giữ nguyên hiện trạng lối đi để sử dụng chung đi vào các thửa đất 164, 165, 166, 167 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3.
Căn cứ các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 483; Điều 228, Điều 244, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 224 Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 207, Điều 169, Điều 212, Điều 217, Điều 218, Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 100, Điều 166, Điều 188 Luật đất đai năm 2013.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 về việc “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” với ông Lê Quang Đ, ông Lê Quang Hồng P và bà Nguyễn Thị Cẩm V.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 về việc “Tranh chấp yêu cầu chia tài sản chung quyền sử dụng đất” của cụ Lê Thị Đ1 chết để lại gồm các thửa đất số 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 được quyền quản lý và sử dụng đối với các thửa đất:
- Thửa đất số 164, tờ bản đồ số 8, loại đất BHK, diện tích đo đạc thực tế là 707,7m² tại ấp Thuận Hòa 1, xã Hòa Khánh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; có vị trí tiếp giáp như sau:
- Thửa đất số 165, tờ bản đồ số 8, loại đất BHK, diện tích đo đạc thực tế là 884,8m² tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; có vị trí tiếp giáp như sau:
- Thửa đất số 167, tờ bản đồ số 8, loại đất BHK, diện tích đo đạc thực tế là 2113,1m² tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; có vị trí tiếp giáp như sau:
- Ông Lê Quang Đ được quyền quản lý và sử dụng đối với thửa đất số 166, tờ bản đồ số 8, loại đất ONT, diện tích đo đạc thực tế là 1839,1m² tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; có vị trí tiếp giáp như sau:
- Buộc ông Lê Quang Đ, bà Nguyễn Thị Cẩm V và ông Lê Quang Hồng Phúc giao các thửa đất số 164, 165, 167 tờ bản đồ số 8, loại đất BHK tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cho các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3.
- Bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3, ông Lê Quang Đ có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được điều chỉnh hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông Lê Quang Đ, bà Nguyễn Thị Cẩm V và ông Lê Quang Hồng P có nghĩa vụ giao cho các bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa số 164, 165, 167 để các bà M, bà M1, bà M2, bà M3 điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định bản án.
- Ông Lê Quang Đ và bà Nguyễn Thị Cẩm V có nghĩa vụ hoàn trả giá trị chênh lệch đất cho bà Lê Thị M số tiền 292.250.466 đồng; bà Lê Thị M1 số tiền 292.250.466 đồng; bà Lê Thị M2 số tiền 292.250.466 đồng; bà Lê Thị M3 số tiền 292.250.466 đồng (Hai trăm chín mươi hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng).
- Ghi nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 hoàn trả giá trị nhà vệ sinh số 7 có diện tích 6m² trên thửa 167, theo Chứng thư thẩm định giá ngày 04/8/2022 của Công ty Cổ phần T2 có giá trị là 6.370.976 đồng cho ông Lê Quang Đ; cụ thể các bà M, bà M1, bà M2, bà M3 mỗi bà có trách nhiệm trả cho ông Đ số tiền 1.592.744 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi hai nghìn, bảy trăm bốn mươi bốn đồng).
- Ghi nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 hoàn trả giá trị nhà số H có diện tích 18m² và mái che nhà 8 có diện tích 3,5m² do ông Lê Quang Đ xây dựng trên thửa đất số 165, theo Chứng thư thẩm định giá ngày 04/8/2022 của Công ty Cổ phần T2 có giá trị 46.472.920 đồng và 1.295.551 đồng; cụ thể các bà M, bà M1, bà M2, bà M3 mỗi bà có trách nhiệm trả cho ông Đ số tiền 11.942.118 đồng (Mười một triệu, chín trăm bốn mươi hai nghìn, một trăm mười tám đồng).
- Ghi nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 về việc chừa lối đi vào thửa đất số 166 tại vị trí khu B thuộc một phần thửa 164, diện tích 18,4m²; khu A thuộc một phần thửa 164, diện tích 67,5m².
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm V về việc yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia được lập ngày 29 tháng 7 năm 2011 giữa ông Lê Quang Đ và các bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M4, bà Lê Thị M3, bà Lê Thị M2 tại các thửa 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An diện tích thực tế là 5.544,7m²; loại đất BHK và ONT.
- Về chi phí thẩm định, định giá và lập bản vẽ: Các nguyên đơn đã nộp 56.500.000 đồng và đã chi phí xong; các nguyên đơn được chia 4 phần nên phải chịu 2/3 chi phí; ông Đ được chia 2 phần nên phải chịu 1/3 chi phí. Do đó, ông Lê Quang Đ có nghĩa vụ nộp hoàn trả số tiền 18.833.000 đồng cho các nguyên đơn.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M3, ông Lê Quang Đ không phải chịu án phí do là người cao tuổi.
- Ông Lê Quang Hồng P phải chịu 300.000 đồng.
- Bà Lê Thị M2 phải chịu 77.297.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 3.050.000 đồng mà bà M2 đã nộp theo biên lai thu số 0005725 ngày 01/7/2020 và biên lai thu số 0009805 ngày 28 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà M2 còn phải nộp tiếp số tiền 74.247.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).
- H1 lại cho bà Lê Thị M3 3.050.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0005724 ngày 01/7/2020, biên lai số 0009804 ngày 28/02/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Các nguyên đơn bà Lê Thị M, bà Lê Thị M1, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị M3 không phải chịu án phí.
- H1 lại cho bà Lê Thị M2 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0001876 ngày 08/9/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- H1 lại cho bà Lê Thị M3 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0001875 ngày 08/9/2023 của Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Vô hiệu một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Quang Đ, bà Nguyễn Thị Cẩm V và ông Lê Quang Hồng P, được Văn phòng C2 chứng thực số 12697, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13/12/2019 thuộc các thửa đất số 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Phân chia quyền sử dụng các thửa đất số 164, 165, 166, 167 tờ bản đồ số 8 tại ấp T, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An như sau:
Đông giáp: Thửa số 163 cạnh dài 26m.
Tây giáp: Thửa số 166, 165 cạnh dài 28m + 1,6m (02 đoạn).
Nam giáp: Thửa số 208, 209 cạnh dài 20,7m (02 đoạn).
Bắc giáp: Thửa số 165, 161 cạnh dài 4,1m + 20,7m (02 đoạn).
Đông giáp: Thửa số 161 cạnh dài 35,4m.
Tây giáp: Thửa số 167 cạnh dài 35m.
Nam giáp: Thửa số 166, 164 cạnh dài 20m + 4,1m (02 đoạn).
Bắc giáp: Thửa số 160 cạnh dài 26m.
Đông giáp: Thửa số 160, 165 cạnh dài 51m.
Tây giáp: Thửa số 169 cạnh dài 50,7m.
Nam giáp: Thửa số 166 cạnh dài 42,6m.
Bắc giáp: Thửa số 159 cạnh dài 41m.
Đông giáp: Thửa số 164 cạnh dài 28m.
Tây giáp: Thửa số 168 cạnh dài 30m.
Nam giáp: Thửa số 207, 208 cạnh dài 60m + 3,5m (02 đoạn).
Bắc giáp: Thửa số 167, 165 cạnh dài 62,6m.
(Theo Mảnh trích đo địa chính số 35-2022 do Công ty TNHH Đ2 đo ngày 14/02/2022, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/02/2022, Phụ lục bản trích đo số 35-2022 do Công ty TNHH Đ2 phân khu năm 2022 và Phụ lục bản trích đo số 35-2022 do Công ty TNHH Đ2 phân khu ngày 10/6/2024).
Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Ngọc Yến |
Bản án số 268/2024/DS-PT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất, hủy biên bản phân chia quyền sử dụng đất, vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 268/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất, hủy biên bản phân chia quyền sử dụng đất, vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị M "Tranh chấp chia tài sản chung,..." Lê Quang Đ
