Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 267/2023/HS-ST

Ngày 29-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG -THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thủy

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Châu

  • Bà Huỳnh Thị Thanh Hà

  • Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lan Anh - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2023, tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 297/2023/TLST-HS ngày 10/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2023/QĐXXST-HS ngày 16/11/2023 đối với:

Bị cáo Lê Thành T; sinh năm 1982 tại Hà Nội; hộ khẩu thường trú: phố V, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở: ngõ X phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 7/12; con ông Lê Thanh B (đã chết) và con bà Đào Thị Hạnh P; gia đình có hai anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: không; Tiền án: 01 tiền án - Ngày 07/01/2004, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử 24 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/11/2005, chưa nộp án phí (Chưa xóa án tích); Tiền sự: không.

* Nhân thân:

  • - Ngày 17/12/2009: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/3/2012, đã nộp án phí ngày 04/8/2014 (Đã xóa án tích);

  • - Ngày 11/8/2014: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử 7 năm 6 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/02/2020, đã nộp án phí ngày 21/01/2015 (Đã xóa án tích);

  • - Ngày 15/10/2006: Công an phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đưa đi cai nghiện bắt buộc (Đã đủ thời hạn để coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/8/2023; tạm giam ngày 26/8/2023. Danh chỉ bản số 450 lập ngày 25/8/2023 tại Công an quận Hai Bà Trưng. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Chị Đào Ninh Phương A, sinh năm 2007; hộ khẩu thường trú: phố M, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Anh T; sinh năm 1980 (là bố đẻ chị Đào Ninh Phương A); hộ khẩu thường trú: phố M, quận H, thành phố Hà Nội; xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định nên Lê Thành T nảy sinh ý định đi đến Khu đô thị TimesCity, 458 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để tìm tài sản sơ hở thì trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu sài. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 20/8/2023, Lê Thành T đi bộ một mình qua Hiệu sách ADC Book, tại Toà T3, đường số 4, Khu đô thị TimesCity, 458 Minh Khai thì nhìn thấy ở trước cửa hiệu sách có một chiếc xe máy điện nhãn hiệu Dibao, màu vàng xám, biển số 29MĐ1-495.37 đang dựng ngoài cửa không có người trông giữ. Thấy vậy, Trung lại gần xe, kiểm tra thấy xe không khoá nên Trung đã ngồi lên xe, tự đẩy chiếc xe ra khỏi vị trí. Khi Trung đẩy xe đi được khoảng 100m, đến khu vực lối vào thang hàng Toà T6, đường số 4 Khu đô thị TimesCity thì bị anh Dương Đức T (sinh năm 1990; HKTT: Tổ 20, phường L, quận B, thành phố Hà Nội) đang làm nhiệm vụ tuần tra trên đường số 4 phát hiện bắt quả tang, đồng thời thông báo cho Công an phường Vĩnh Tuy đến lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, yêu cầu Trung về trụ sở Công an phường làm việc và tạm giữ 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu nhãn hiệu Dibao, màu vàng xám, biển số 29MĐ1-495.37; số máy 307213; số khung 05241, xe đã qua sử dụng. Ngoài ra, cơ quan công an không thu giữ gì khác của Lê Thành T.

Ngày 07/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng đã có văn bản yêu cầu định giá tài sản là chiếc xe máy điện nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 195/KL-HD ĐGTS ngày 25/9/2023, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận Hai Bà Trưng đã kết luận: 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu Dibao, màu vàng xám, biển số 29MĐ1-495.37; số khung: 05241; số máy: 307213; xe đăng ký lần đầu ngày 18/8/2022, đã qua sử dụng, có giá trị là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Tại cơ quan công an, Lê Thành T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu Dibao, màu vàng xám, biển số 29MĐ1-495.37; số khung: 05241; số máy: 307213: Quá trình điều tra, xác định xe đăng kí mang tên: Chị Đào Ninh Phương A, sinh năm 2007; hộ khẩu thường trú: phố M, quận H, thành phố Hà Nội. Tại cơ quan điều tra, chị Đào Ninh Phương A (có bố là ông Đào Anh Tú đại diện) khai: Khoảng 08 giờ 25 phút ngày 20/8/2023, Chị A điều khiển xe máy điện màu vàng biển số 29MĐ1-495.37 đến Hiệu sách ADC Book tại Toà T3, đường số 4, Khu đô thị TimesCity, 458 Minh Khai. Chị đi vào trong hiệu sách và để xe ở trước cửa hiệu sách, không nhờ người trông giữ và không khoá cổ, khoá càng. Khoảng 10 phút sau, chị đi ra thì không thấy chiếc xe máy điện đâu. Chị tìm xung quanh thì thấy khu vực lối thang vào Toà T6, trên đường số 4 có đông người. Lúc này chị được biết bảo vệ Khu đô thị TimesCity đã bắt giữ được người lấy trộm xe máy điện của chị. Ngày 19/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả chiếc xe máy điện trên cho chị Đào Ninh Phương A. Chị A (do ông Đào Anh T đại diện) đã nhận xe và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 284/CT-VKSHBT-HS ngày 06/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã truy tố Lê Thành T về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thành T giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

Bị hại là chị Đào Ninh Phương A (do bố là ông Đào Anh Tú đại diện) đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Chị A xác nhận đã nhận lại xe máy và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự đối với bị cáo, nên Tòa án tiến hành xét xử theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Lê Thành T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thành T với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù; về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập; về xử lý vật chứng: không đề cập xử lý; về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại chiếc xe máy và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Xét lời khai của bị cáo Lê Thành T tại phiên tòa thống nhất với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; căn cứ kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 20/8/2023, tại khu vực trước cửa Hiệu sách ADC Book, tại Toà T3, đường số 4, Khu đô thị TimesCity, 458 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, bị cáo Lê Thành T đã có hành vi trộm cắp tài sản là một chiếc xe máy điện nhãn hiệu Dibao, màu vàng xám, biển số 29MĐ1-495.37; số khung 05241; số máy 307213 của chị Đào Ninh Phương A, sinh năm 2007; hộ khẩu thường trú: 1801 toà B Chung cư 378 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Trị giá tài sản bị trộm cắp là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Bị cáo có năng lực hành vi hình sự đầy đủ, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản Cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của Lê Thành T đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về nhân thân: Bị cáo Lê Thành T có một tiền sự năm 2006 do bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng xác định đã đủ thời hạn để coi là chưa bị xử lý hành chính. Ngoài ra, bị cáo còn có ba tiền án vào các năm 2004, 2009 và 2014 đều về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Trong đó, tiền án năm 2009 và 2014 xác định đã xoá án tích; còn tiền án năm 2004 xác định chưa xoá án tích do chưa nộp án phí hình sự. Nên lần phạm tội này, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Điều này cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử lý hành chính và truy tố, xét xử nhiều lần nhưng không lấy đây làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân để khắc phục sửa chữa mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có năng lực hành vi hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội, khách thể xâm phạm, lỗi và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để đảm bảo việc cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và bảo đảm công tác đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên quyết định áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là thương binh hạng A, thương tật hạng 2/8, nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

  4. Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  5. Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu Dibao, màu vàng xám, biển số 29MĐ1-495.37: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Đào Ninh Phương A nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên là có căn cứ. Ngày 19/10/2023, chị Đào Ninh Phương A (do bố là ông Đào Anh T đại diện) đã nhận xe và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự, nên không xét.

  6. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành T phạm tội Trộm cắp tài sản.

  2. Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt: Bị cáo Lê Thành T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt là ngày 20/8/2023.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Lê Thành T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Hai Bà Trưng;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - Toà án NDTP Hà Nội;
  • - Công an quận Hai Bà Trưng;
  • - Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ, Toà án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 267/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 267/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thành T phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger