|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 267/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26 – 4 - 2024
V/v ly hôn Hào - Hùng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thái Quân.
Bà Nguyễn Đình Phùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 04 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 488/2023/TLST - HNGĐ ngày 23/11/2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1998.
Trú tại: tổ F, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1988.
Trú tại: tổ A, ấp L, xã P, huyện P, tỉnh An Giang
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/11/2023 nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
Hôn nhân của bà H, ông H1 do mai mối rồi đi đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 12, ngày 03 tháng 02 năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng cha mẹ chồng lên Bình Dương tìm việc làm, sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do ông H1 đi làm có bao nhiêu tiền mẹ chồng giữ nhưng khi cần tiền tiêu xài, xin mẹ chồng thì mẹ chồng không cho, nhiều khi bà H về quê thăm cha mẹ cũng không có tiền, tất cả chi phí sinh hoạt trong gia đình một mình bà H lo liệu, sự việc diễn ra nhiều năm, ngày 02/9/2023 bà H bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống từ đó cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không gặp mặt và cũng không điện thoại qua lại hỏi thăm nhau, tình cảm vợ chồng vì thế dần phai nhạt, nay tình cảm không còn bà H yêu cầu ly hôn với ông H1.
Vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 08/10/2017 con chung hiện tại đang sống chung với ông H1, khi ly hôn bà H đồng ý giao con chung cho ông H1 nuôi dưỡng, không cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân được bà Nguyễn Thị E(bà nội của ông H1) cho biết: bà có nhận được thông báo và quyết định của Toà án thay cho ông H1, có cho H1 hay việc bà H ly hôn nhưng ông H1 bận đi làm không về tham gia phiên Toà được, ông H1 hiện đang sinh sống với gia đình bà tại ấp L, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, H1 đồng ý ly hôn với bà H. Vợ chồng H1 có một con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 08/10/2017 hiện đang sống chung nhà với bà E và ông H1.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Ông H1 không có mặt theo các thông báo là thực hiện không đúng Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu cho bà H được ly hôn ông H1. Giao con chung Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 08/10/2017, cho ông H1 nuôi dưỡng; ông H1 không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà H yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông H1 nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp L, xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1 Về hôn nhân: bà H và ông H1 tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống và có đăng ký kết hôn năm 2017 là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Bà H cho rằng ông H1 không quan tâm chăm sóc vợ con, tiền làm bao nhiêu cũng đưa mẹ chồng giữ, chi tiêu sinh hoạt trong gia đình một mình bà H lo liệu vợ chồng vì thế hay cải nhau, ông H1, bà H ly thân với nhau từ ngày 02/9/2023 đến nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, bà H xin ly hôn ông H1.
Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau....”. Thế nhưng vợ chồng ông H1, bà H không còn chung sống khoảng 06 tháng nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho bà H được ly hôn ông H1.
[2.2] Về con chung: Bà H và ông H1 có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 08/10/2017, con chung đang sống chung ông H1 bà H đồng ý giao con chung cho ông H1 tiếp tục nuôi dưỡng. Xét từ khi ly thân đến nay con chung đang sống với ông H1, có cuộc sống ổn định, nên tiếp tục giao cháu H2 cho ông H1 nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông H1 vắng mặt, không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Bà H trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[2.4] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H
Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị H được ly hôn ông Nguyễn Văn H1.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 08/10/2017 cho ông H1 được tiếp tục nuôi dưỡng. Bà H không phải cấp dưỡng cho con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.
Về án phí: bà Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006372 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Bà H không phải nộp thêm án phí.
Ông H1 không phải chịu án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông H1, bà H vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc Thảo |
Bản án số 267/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 267/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
